Đại tướng Võ Nguyên Giáp (3)

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một trong những nhân vật kiệt xuất nhất của lịch sử Việt Nam thế kỷ XX, ông là người học trò xuất sắc của Chủ Tịch Chí Minh và là vị tướng đầu tiên của Quân đội nhân dân Việt Nam . Cuộc đời và sự nghiệp của ông gắn liền với những bước ngoặt trọng đại của dân tộc, trong đó Cách mạng Tháng Tám 1945 là dấu mốc đầu tiên đã để lại dấu ấn rõ nét về tài trí, bản lĩnh và tầm nhìn chiến lược của ông. Thắng lợi của mùa Thu lịch sử ấy có đóng góp rất lớn từ quá trình xây dựng lực lượng, tổ chưc, chỉ đạo và trực tiếp lãnh đạo khởi nghĩa của Đại tướng – lúc đó mới hơn 30 tuổi nhưng đã thể hiện trọn vẹn khí phách của một nhà quân sự thiên tài.
Võ Nguyên Giáp sinh năm 1911 tại làng An Xá, tỉnh Quảng Bình, sống trong một gia đình nhà Nho yêu nước. Từ nhỏ ông đã chứng kiến cảnh quê hương nghèo khó, nhân dân chịu cảnh áp bức của thực dân, từ đó nuôi dưỡng trong mình ý chí mạnh mẽ muốn tìm đường giải phóng dân tộc. Những năm học tại Trường Quốc học Huế đã đưa ông đến với phong trào đấu tranh của học sinh, sinh viên yêu nước. Ông sớm tham gia hoạt động bí mật, viết báo phản đối chính quyền thực dân, truyền bá tinh thần cách mạng. Dù từng bị bắt giam, bị tra khảo, nhưng điều đó không làm vơi đi lòng yêu nước mà càng hiến ông quyết tâm hơn trên con đường đấu tranh vì độc lâp.
Bước ngoặt lớn nhất trong cuộc đời Võ Nguyên Giáp là cuộc gặp gỡ Nguyễn Ái Quốc năm 1940 tại Côn Minh. Từ giây phút ấy, ông hoàn toàn tin tưởng vào con đường mà Người chỉ ra. Với trí tuệ sắc bén, sự nhảy cảm chính trị và tinh thần kỷ luật cao, ông nhanh chóng trở thành một trong những cán bộ nòng cốt của Việt Minh. Khi trở về Pác Bó, ông cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng căn cứ Việt Bắc, mở lớp huấn luyện cho quần chúng, gây dựng lực lượng chiến đấu, đặt nền móng cho một đội quân giai phóng trong tương lai.
Những ngày đầu lập lực lượng vũ trang, Võ Nguyên Giáp đã thể hiện khả năng chỉ huy và tư duy quân sự xuất sắc. Với tầm nhìn chiến lược, ông nhận ra cần phải có lực lượng quân sự tinh nhuệ làm nòng cốt để chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa. Dưới sự chỉ đạo của Hồ Chí Minh, ngày 22/12/1944, ông thành lập đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân gồm 34 chiến sĩ ưu tú. Đội quân nhỏ bé, trang bị thô sơ nhưng tràn đầy khí thế cách mạng ấy đã lập tức bước vào trận đánh và giành hai chiến thắng liên tiếp ở Phai Khắt và Nà Ngần. Những chiến thắng đầu tiên ấy không chỉ chứng minh sự đúng đắn của việc thành lập lực lượng vũ trang mà còn khẳng định tài cầm quân của Võ Nguyên Giáp, tạo niềm tin mạnh mẽ vào khả năng đánh thắng kẻ thù của nhân dân ta.
Khi Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945, tình hình chính trị Đông Dương thay đổi nhanh chóng. Võ Nguyên Giáp nhận định đây là thời cơ để đẩy mạnh vũ trang khởi nghĩa. Ông tổ chức mở rộng khu giải phóng Việt Bắc, tăng cường tuyên truyền, phá kho thóc cứu đói cho nhân dân, vận động mạnh mẽ phong trào chống Nhật. Các đội giải phóng quân sự dưới sự chỉ huy của ông liên tục phát triển, tiến hành nhiều trận đánh nhỏ nhằm tiêu hao sinh lực địch và giành thêm vũ khí. Đó là thời kì mà năng lực lãnh đạo quân sự của ông được rèn giũa và bộc lộ hoàn toàn: quyết đoán, linh hoạt, biết nắm bắt thời cơ, biết dựa vào sức mạnh của nhân dân và đặt lợi ích dân tộc lên hàng đầu.
Đến tháng 8/1945, khi Nhật tuyên bố đầu hàng Đồng minh vô điều kiện, thời cơ “ nghìn năm có một “ đã đến. Trung ương Đảng họp khẩn cấp và quyết định tiến hành tổng khởi nghĩa. Với trách nhiệm của người chỉ huy lực lượng vũ trang, Võ Nguyên Giáp được giao soạn thảo và kí vào Quân lệnh số 1-Lệnh tổng khởi nghĩa trong toàn quốc. Dưới nét bút mạnh mẽ của ông, lời hiệu triệu toàn dân vang lên như tiếng gọi của non sông: “ Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc đã đến “ . Văn kiện ấy mang sức mạnh của một lời tuyên thệ, thúc giục triệu triệu trái tim người Việt vùng lên đập tan xiềng xích nô lệ.
Lệnh tổng khởi nghĩa được truyền đi khắp nơi, và dưới sự chỉ đạo của Võ Nguyên Giáp, lực lượng giải phóng quân nhanh chóng tiến về các địa phương trọng yếu.Tại Hà Nội ông chỉ đạo bao vây các cơ quan của chính quyền bù nhìn, hỗ trợ quần chúng nhân dân chiếm Phủ Khâm sai, Sở cảnh sát, Bưu điện, Đài phát thanh. Ngày 19/8/1945 Hà Nội chính thức giành chính quyền, mở đầu cho thắng lợi trên cả nước. Sau đó, làn song khởi nghĩa phát triển mạnh mẽ: Huế giành chính quyền ngày 23/8, Sài Gòn ngày 25/8, rồi lần lượt tất cả các tỉnh thành trên toàn quốc đều giành chính quyền trong thời gian ngắn. Sự thần tốc, quyết liệt và ít đổ máu ấy thể hiện rõ tài năng tổ chức của Võ Nguyên Giáp, người đã biết kết hợp khéo léo giữa lực lượng vũ trang và phong trào chính trị quần chúng.
Ngày 2/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, hàng vạn người dân Việt Nam chứng kiến Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà. Phía sau người, Võ Nguyên Giáp – vị chỉ huy trưởng của lực lượng vũ trang cách mạng. Đó là khoảnh khắc đánh dấu thành quả của biết bao năm kiên trì đấu tranh, bao hy sinh của nhân dân và cũng là thành quả của trí tuệ, tài năng và sự cống hiến không mệt mỏi của ông.
Cách mạng Tháng Tám 1945 là chiến công vĩ đại của toàn dân tộc, nhưng trong chiến công ấy có dấu ấn sâu đậm của Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Từ một thầy giáo dạy sử , ông đã trở thành một vị tướng biết nhìn xa trông rộng, biết tổ chức lực lượng, biết chớp lấy thời cơ lịch sử. Tài năng quân sự của ông không chỉ thể hiện trong nhũng trận đánh lớn sau này như Điện Biên Phủ hay Chiến dịch Hồ Chí Minh, mà ngay từ bước đầu lập nước, ông đã chứng minh khả năng lãnh đạo xuất chúng. Ông là người đặt nền móng cho Quân đội nhân dân Việt Nam, xây dựng lực lượng vũ trang từ những đội quân nhỏ bé ban đầu để rồi trở thành quân đội chính quy của một quốc gia độc lập.
Cuộc đời Đại tướng Võ của ông trong Cách mạng Tháng Tám 1945 là minh chứng rõ ràng Nguyên Giáp là bản anh hung ca mà thế hệ hôm nay và mai sau luôn ngưỡng mộ.Ông không chỉ là vị tướng đánh đâu thắng đó, mà còn là người mang trong mình mọt trái tim yêu nước nồng nàn, sống giản dị, hết lòng vì Tổ quốc. Hành trình cho tài năng và khí phách của một con người hiến dâng trọn đòi cho dân tộc.Tên tuổi của ông mãi mãi sống trong lịch sử, cùng những trang vàng chói lọi của đất nước Việt Nam.


