Bài viết

ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP

Đồng chí Đại tướng Võ Nguyên Giáp, tên khai sinh Võ Giáp, bí danh: Văn. Sinh ngày 25-8-1911, tại xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình 1. Hoạt động cách mạng thời kỳ đầu (1925 – 1944) 1925 – 1927: Tham gia phong trào học sinh ở Huế và gia nhập Đảng Tân Việt. 1930 – 1939: Bị tù 2 năm (1930); sau đó tiếp tục tuyên truyền, hoạt động trong phong trào dân chủ ở Hà Nội, làm biên tập viên cho các báo Đảng và là Chủ tịch Ủy ban Báo chí Bắc Kỳ. 1940 – 1944: Kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương (6/1940), ra nước ngoài gặp Nguyễn Ái Quốc; về nước chuẩn bị khởi nghĩa ở Cao - Bắc - Lạng. Tháng 12/1944, thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. 2. Lãnh đạo Tổng khởi nghĩa và Xây dựng chính quyền (1945 – 1954) 1945: Là Tư lệnh các lực lượng vũ trang cách mạng (Việt Nam giải phóng quân); được bầu vào Ban Chấp hành Trung ương (BCHTƯ) Đảng, Ủy ban Dân tộc giải phóng, giữ chức Bộ trưởng Bộ Nội vụ trong Chính phủ lâm thời. 1946: Làm Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Tổng Chỉ huy Quân đội nhân dân và Dân quân tự vệ Việt Nam. 1948 – 1951: Được phong quân hàm Đại tướng, Tổng Tư lệnh Quân đội nhân dân Việt Nam (1/1948); được bầu vào BCHTƯ và Bộ Chính trị tại Đại hội II của Đảng (1951). 3. Giai đoạn giữ chức vụ cao cấp của Đảng, Nhà nước và Quân đội (1955 – 1986) 1955 – 1979: Phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Quốc phòng. 1960 – 1982: Tiếp tục giữ chức Ủy viên BCHTƯ và Ủy viên Bộ Chính trị qua các Đại hội III (1960) và Đại hội IV (1976); tái bầu vào BCHTƯ tại Đại hội V và VI. 1980 – 1986: Phó Thủ tướng Thường trực (từ 1980) và Phó Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (1981 - 1986). Quốc hội: Đại biểu Quốc hội liên tục từ khóa I đến khóa VII. 4. Khen thưởng và Danh hiệu Được trao tặng Huân chương Sao vàng, Huân chương Hồ Chí Minh, Huy hiệu 70 năm tuổi Đảng cùng nhiều huân, huy chương cao quý khác trong nước và quốc tế

30/10/2026Đoàn Phường Thủ Đức (Phường Thủ Đức)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trước khi trở thành vị Đại tướng nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam, Võ Nguyên Giáp

từng là một thầy giáo dạy lịch sử. Ông tham gia hoạt động cách mạng và dần được

giao những nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng lực lượng vũ trang.

Tháng 12 năm 1944, theo chỉ thị của Hồ Chí Minh, ông tổ chức thành lập Đội Việt

Nam Tuyên truyền Giải phóng quân với 34 chiến sĩ. Đây là một lực lượng nhỏ, trang

bị còn hạn chế, nhưng có vai trò quan trọng trong quá trình hình thành quân đội cách

mạng Việt Nam.

Đến năm 1945, tình hình thế giới và Đông Dương thay đổi nhanh chóng. Ngày 9 tháng

3, Nhật đảo chính Pháp. Sau đó, phong trào kháng Nhật cứu nước phát triển mạnh, tạo

điều kiện để cách mạng Việt Nam chuẩn bị giành chính quyền.

Tại Tân Trào, Tuyên Quang, các cán bộ cách mạng cùng nhau bàn bạc kế hoạch và

chuẩn bị lực lượng. Khi thời cơ xuất hiện, Tổng khởi nghĩa được phát động trên phạm

vi cả nước.

Trong tháng 8 năm 1945, Võ Nguyên Giáp tham gia chỉ huy lực lượng giải phóng tiến

đánh Thái Nguyên. Những hoạt động quân sự này góp phần vào thắng lợi chung của

cuộc cách mạng.

Điều đáng nhớ là thắng lợi năm 1945 không phải kết quả của riêng một vị tướng hay

một cá nhân. Nó được tạo nên bởi sự lãnh đạo, sự chuẩn bị trong nhiều năm và sự

tham gia của đông đảo nhân dân ở các địa phương.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn