Bài viết

Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Chiến tranh đã lùi xa nhưng những hy sinh của dân tộc ta không bao giờ được phép quên.”

Đồng Nai25/06/2026Lê Thị Thanh Xuân (Khu phố Phú Lộc 16)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ai cũng biết rằng câu nói trên là một câu nói của một vị tướng tài ba lỗi lạc và có nhiều công lao đóng góp cho đất nước Việt Nam, cho sự hòa bình hiện tại của dân tộc ta. Từ câu nói trên, mỗi người dân chắc cũng đã nhớ và hoài niệm về một thời oanh liệt của dân tộc ta, liên tiếp chiến thắng nhiều cuộc chiến dẫu có nhiều đau thương mất mát, dẫu có nhiều hi sinh, dẫu có nhiều lần thất bại. Dân tộc Việt Nam ngoan cường ấy vẫn tiếp tục đứng lên để giành lại độc lập, mong một ngày hai chữ Hòa Bình được cất lên một cách đầy tự hào nhất; để chờ tới ngày Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa; để chờ đến ngày nhân dân thái bình đất nước thịnh vượng; để chờ đến ngày cái đói cái khổ không còn là nỗi ác mộng của nhân dân nữa...

Nhưng ở cái thời hoa lửa ấy, dẫu ai cũng mang một ý chí khát khao mãnh liệt về cách mạng với những lý tưởng cao đẹp trong tim, thì những điều ước ấy trở nên vô cùng xa vời với con dân đất Việt, với đồng bào khắp cả nước. Nơi ấy chỉ có một câu chuyện viết lên từ mỗi cá nhân, với cái khó, cái khổ, cái đau xót chua cay, cái mất mát từng mẫu tử hay dừng lại độ tuổi của mình ở một mốc nào đó mà người ta gọi là Thanh Xuân. Những con người ấy như những đóa hoa trên chiến trường, như quả ngọt trong một bụi gai, hay như một tia sáng giữa vầng trời khuya mà nơi ấy chỉ có sự yêu thương giữa đồng chí với đồng chí, có sự yêu thương giữa cấp trên dành cho nhân dân và ngược lại.

Điều đẹp đẽ ấy được em nghe lại từ chính những người đã sống sót trong thời hoa lửa – cái thời mà mưa bom bão đạn như là mưa rào hằng ngày, cái thời mà máy bay Mỹ bay trên đầu còn nhiều hơn là chim lượn về tổ... Dẫu khó khăn gian lao như vậy nhưng trong lòng mỗi người vẫn thể hiện sự lạc quan yêu đời đáng nể. Bởi vậy, những câu chuyện như đời thường hay giật gân hay nhiều chua xót thời hoa lửa ấy sẽ mãi mãi được truyền lại cho đằng sau, và nó vẫn sẽ mãi đẹp đẽ và trong sáng nhất ở hiện tại, quá khứ và tương lai.

Em là một học sinh cấp 3 bình thường như bao đứa trẻ khác, vẫn thích nô đùa ham chơi, thích khám phá những điều mới mẻ nhất, thích làm những điều mình thích. Cái tuổi này là cái tuổi bướng bỉnh nhất của đời người, nhưng chắc có lẽ khi qua tuổi này ai cũng phải học cách để tự trưởng thành và cải thiện bản thân để được bước vào cuộc sống mới – cuộc sống của người trưởng thành. Nhưng ở trong cái hoàn cảnh này, nực cười là em không thích học, nói đúng hơn là không có nhiều người bạn để cùng giao du trò chuyện.

Em thích nói chuyện với mấy ông bà già trong xóm hơn, mà nói thật là trông xấu; em cũng không có nhiều người bằng tuổi để cùng nói chuyện. Giải thích một chút rằng nhà em cách nhà các bạn khác khá xa, do không có đầy đủ phương tiện để di chuyển nên em cũng không thường xuyên qua nhà các bạn khác để chơi. Mấy bà tám ở ngoài đường thì chỉ chăm chăm nói về ba câu chuyện ở trên mạng, đánh dóc để mua đồ cho nhau; còn mấy người trung niên thì bận ngồi uống trà rồi, có mấy đời mấy bác mấy chú lại ngồi nghe mấy đứa nhóc qua tuổi dậy thì kể chuyện đời của nó cho nghe đâu.

Bởi thế nên mấy ông bà trong xóm hay ông nội, bà nội hoặc bên ngoại là những người em hay nói chuyện nhất. Chẳng hạn như khi có một niềm vui gì đó hay có một chuyện nào vui vẻ thì em đều kể cho ông bà của mình nghe, hay khi bị điểm kém trong học tập em cũng đều kể cho họ nghe. Cái đặc điểm em thích nhất ở ông bà là họ không bao giờ than phiền về điểm số của em hay ngồi nói lảm nhảm về ba bài học cuộc đời. Bởi ông bà mà hay nói mấy câu tục ngữ hay mấy câu nói bộc bạch để dạy đời mấy đứa nhóc mới lớn chỉ có trong phim cổ tích mà thôi.

Và đương nhiên, kể qua thì cũng phải kể lại. Ông bà tôi rất hay kể chuyện xưa chuyện cũ của các cụ cho em nghe. Thật lòng mà nói, ở nước Việt Nam này, chắc mới ra đầu cửa là đã gặp được một ông cựu chiến binh hay bà có vai vế ngang với bà mẹ Việt Nam anh hùng thời ấy, hay là nữ du kích dọn đường, người phụ nữ ở hậu phương.

Mấy ông bà thời chiến kể lại câu chuyện ngày xưa nghe cũng thường lắm chứ không máu me như mấy bộ phim tài liệu đâu. Hi sinh thì có hi sinh, mất mát thì có mất mát nhưng rồi cũng phải vượt qua thôi. Bởi vì Mỹ đánh bom thì nhân dân ta có cách để tránh, hay Mỹ đi do thám bằng máy bay thì mấy cô trò trong làng dẫu có đang ngồi học bài vẫn có hầm để chạy vô mà ngồi. Nhưng mà phải chạy nhanh chứ không là cũng bị bọn nó rà mà bắn chết.

Nghe vậy thì chẳng lẽ người ngày xưa trong thời chiến lại cũng giống như người thời nay nhưng chỉ khác mỗi điều kiện sống là chúng ta đầy đủ hơn – có tivi, tủ lạnh, có điện thoại, máy tính để giải trí thôi hay sao? Đương nhiên là không rồi. Thời ấy khó khăn hơn nhiều, cũng là ở các điều kiện sống, nhưng mà khắc khổ không bao giờ tưởng tượng nổi.

Bà em kể rằng thời ấy khổ lắm cháu à, cơm ăn không đủ no, trời rét thì phải tự kiếm chỗ trú chứ không có chăn len như ngày nay đâu. Ngày ấy nhà nào ăn được bát cơm trắng không là cũng đã gọi là khá giả lắm rồi, là sung sướng lắm rồi. Nửa bữa có miếng cơm cháy cạnh đáy nồi để lót dạ rồi đi làm tiếp là cũng một niềm hạnh phúc. Con nhà bà thời ấy làm gì có cơm mà ăn. Gạo thì ừ có, nhưng mà không nhiều. Mỗi bữa ăn chỉ có tí cơm mà phải độn với khoai, sắn; rau thì ăn chấm muối hột chứ làm gì có nước mắm, nước tương.

Rồi đến cái hồi bà vào đội cũng thế. Ngày thì đi làm không bỏ hơi tay; đến bữa cơm đơn vị ngày thì ăn bánh mì, ăn sắn chứ cũng chẳng có hạt gạo nào. Bánh với sắn nhiều lúc trữ trong kho lương ẩm mốc, meo giòi bọ, mẳn mắt bâu đầy vẫn ngắt đi rồi ngồi nuốt tiếp. Lâu lâu tụi bà lại ra ruộng mò ốc, cua, lâu lâu có vài con cá nhỏ, con tép về nấu canh rau cho anh em ăn. Còn thịt heo thịt bò thì quân ta cũng gửi cho mấy anh bộ đội ngoài chiến trường, nhưng hồi ấy ông của em bảo rằng ăn uống tiết kiệm lắm, nghĩ là đủ mọi món để lấp cái bụng đói chứ thịt bò thịt heo gửi tới cũng chỉ đủ cho các đồng chí ăn trong vài bữa là hết. Người ấy sống khổ thế, mà ông bà còn cố gắng được, còn có sức làm việc, có sức đánh giặc, đi chặng đường hành quân xa, dấu chân tay nhức, đồ ăn khó nuốt cũng cố gắng mà nhai cho con cháu được ngày hôm nay.

Bà nhớ cái lúc mình còn nhỏ hồi đó, làm gì sung sướng như bây giờ được cắp sách tới trường. Bà không được học lớp 1 mà đến năm mà những đứa trẻ nào cũng đủ tuổi để lên lớp 4 thì bà mới bắt đầu được đi học, vậy mà bà vẫn học giỏi nhất trong đám. Nhưng nói là đi học chứ không đơn giản như bây giờ – sáng dậy bố mẹ nấu cơm nấu nước cho ăn rồi mình chỉ việc thay đồ đi học. Thời ấy nghèo đói, bà thương cha thương mẹ, ngày dậy 2 giờ sáng đi lấy củi, rửa chuồng rồi cho heo gà ăn. Làm xong việc nhà thì đến việc đồng; hai tay mỏi, tay một gánh và sách chắc cũng phải 2 hay 3 cây số để đi gánh nước tưới rau. Tưới rau xong mới được ăn cơm đi học.

Nghĩ xem, thời nay một học sinh dậy được sáng sớm 5 giờ để học bài, ôn bài trước khi đến trường là cũng hiếm hoi, chứ nói gì bà tôi dậy lúc 2 – 3 giờ sáng để làm việc nhà, việc đồng ruộng. Nghĩ đến mà thương.

Nhớ hồi ấy cũng có một vài chuyện vui, bà cũng kể hết cho tôi nghe. Mấy đứa học trò trong làng đứa nào cũng học dốt như con Bùi Kiệm. Bà của em đi học là giỏi nhất lớp. Mỗi tối đến, cả đám tụ tập lại ở nhà một thằng nào đó rồi mấy đứa con trai đi hái cây, hái quả về cho cả đám ăn. Mấy đứa đó đa phần là học dốt, lên lớp thầy giáo giảng không biết gì, về nhà bài tập không biết làm nên mới phải đi hái quả, còn bà ngồi ở nhà làm bài tập, bắt cái đèn dầu mà sáng tí tí, viết mực thì bẩn hết cả tay. Làm bài tập xong hầu như cũng vừa hay bọn nó quay về có quả để ăn, còn lúc bà đang ăn quả thì tụi nó ngồi khum lưng ra mà chép bài của bà.

Kể ra thời ấy thì cũng có mấy chuyện học sinh chép bài của nhau giống như thời này, và cho mãi thời gian về sau, sự hồn nhiên của những đứa trẻ chắc sẽ mãi mãi vẫn như vậy – vẫn tươi đẹp, đáng yêu và tinh khiết. Nên người ta mới bảo: Ừa, đi học là tuổi thơ tươi đẹp nhất của con người. Ai cũng nhớ mãi mấy cái khung cảnh ấy: được cắp sách tới lớp của làng, ngồi cái bàn nhỏ, có vài đứa thì ngồi phịch xuống dưới đất chứ cũng chẳng có ghế cao như ngày nay.

Rồi thời gian trôi nhanh như những con én thôi đưa. Những đứa học sinh thời nào giờ đây cũng đã lớn, nhưng đất nước thì vẫn đang hoạn nạn đói khổ. Năm ấy là năm chiến tranh biên giới diễn ra khốc liệt. Quân lính nước ta được cử đi biên giới phía Bắc, đi sang Lào, sang Campuchia, và ông em cũng thuộc diện đi Lào. Thời đó cứ khoảng phải 6 tháng ông mới về được một lần.

Năm ấy bà làm ở công tác xã, công việc tính công cho dân. Bà kể về việc tính công của mình một cách tường tận mà em nghe cũng cảm thấy khó chịu thay. Nếu mà để so sánh thời ấy và bây giờ thì chắc bây giờ chỉ cần một giây là làm được công việc của thời ấy trong vòng một tuần. Bà kể bà đi làm công tác xã phải tính công cho mỗi nhà làm việc; cứ mỗi hộ thì đếm số thành viên theo đầu người, đổi cách công cho mỗi hộ. Mỗi ngày đi làm thì cứ làm được bao nhiêu thì nhận được thẻ công bấy nhiêu. Rồi đi đào phân, cứ mỗi một kg phân thì được bao nhiêu công; lấy công đó đem đổi lấy gạo, lấy khoai sắn về nhà ăn, chứ thời ấy là thời bao cấp dân chúng ai cũng khổ cũng khó cả.

Bà làm công việc ấy gần như cứ nửa tháng là phải thay một cuốn sổ mới, mà cuốn nào cũng phải lưu giữ lại. Bà tính nháp mà dày chi chít, đắp mặt đất, cứ xóa rồi lại bôi, trầy hết cả tay.

Những câu chuyện xưa ấy như để lại một vết thương sâu trong lòng mỗi người dân đất Việt. Dẫu chiến tranh đã lùi xa, nhưng mỗi khi nhắc lại, ta vẫn thấy như có một nỗi đau thì thầm đâu đó trong từng câu chuyện của ông bà, trong từng dòng ký ức còn sót lại.

Và mới gần đây thôi, vào năm 2018, tại xã Phú An, huyện Tân Phú (Đồng Nai), người dân lại bất ngờ phát hiện một số di vật nghi của liệt sĩ nằm sâu dưới lớp đất rừng. Những chiếc cúc áo quân phục gỉ sét, mảnh tăng rách nát, vài vật dụng sinh hoạt nhỏ bé đã mở ra cả một quá khứ bị thời gian vùi lấp. Khi lực lượng chức năng về khai quật, người ta tìm thấy và cất bốc được 9 hài cốt liệt sĩ – những người đã nằm lại nơi rừng núi heo hút suốt mấy chục năm trời, không một nén nhang, không một lời gọi tên.

Đó được coi là phần mộ tập thể của những liệt sĩ chưa biết tên, hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Khu vực ấy ngày xưa chính là nơi đặt một bệnh viện dã chiến của đơn vị quân đội. Có thể những người lính ấy mất vì vết thương quá nặng, có thể họ hy sinh trong lúc bảo vệ thương binh, cũng có thể họ đã rời xa đời mình trong một khoảnh khắc mà cả vùng rừng chỉ còn tiếng bom đạn xé trời. Dù là ai, họ vẫn là những người con của đất mẹ Việt Nam, những người đã gửi lại tuổi trẻ của mình nơi rừng sâu, để chúng ta có được hòa bình hôm nay.

Theo các tài liệu lưu trữ tại địa phương, huyện Tân Phú từng có rất nhiều người hy sinh, nhiều gia đình có công với cách mạng. Dòng họ nào cũng có một câu chuyện chưa kể hết, một nỗi đau chưa bao giờ được gọi đúng tên. Những anh hùng ấy âm thầm, lặng lẽ, đôi khi chỉ còn lại trong ký ức của một vài người già trong xóm, trong những trang sổ vàng của xã, hay trong những nấm mộ không bia, không ảnh.

Những phát hiện như ở Phú An không chỉ là việc tìm thấy một hài cốt vô danh. Đó là việc tìm thấy lại một phần ký ức của dân tộc. Là lời nhắc rằng máu xương của bao người đã hòa vào đất để đất nước này được đứng vững. Là tiếng gọi của quá khứ, nhắc ta rằng dù thời gian có phủ bụi bao lâu, thì những hy sinh ấy vẫn luôn tồn tại, âm thầm, thiêng liêng và bất diệt.

Những người con dân đất Việt, hình bóng của chiến tranh luôn luôn hiện hữu trong lòng của chúng ta để nhắc mãi về những hy sinh, những nghĩa cả cao đẹp của những người anh hùng liệt sĩ. Dẫu nay tuổi đã cao, mái đầu bạc trắng theo năm tháng, nhưng ở cái thời hoa lửa ấy, họ là những chàng chiến sĩ mang trong tim lý tưởng rực cháy, sẵn sàng lao vào nơi hiểm nguy để bảo vệ từng tấc đất quê hương. Những câu chuyện về họ — những người đã gác lại tuổi xuân, gác lại ước mơ đời thường — không chỉ là ký ức của một thế hệ, mà còn là trang sử đỏ thắm của dân tộc. Mỗi giọt mồ hôi, mỗi vết sẹo, mỗi nén nhang chưa kịp gọi tên … đều nhắc nhở chúng ta rằng hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng cả biển trời máu xương của cha anh.


Bởi vậy, khi những nấm mộ vô danh được tìm thấy, khi những câu chuyện xưa được kể lại từ miệng những người già còn sót lại sau chiến tranh, ta như được đánh thức về trách nhiệm của chính mình. Lòng biết ơn không chỉ nằm trong lời nói, mà còn phải thể hiện qua hành động: sống xứng đáng, gìn giữ hòa bình, trân trọng tự do, và tiếp tục viết tiếp những điều tốt đẹp mà các thế hệ đi trước đã đánh đổi cả cuộc đời để có được. Chúng ta — thế hệ hôm nay — mang trên vai sứ mệnh lưu giữ ký ức dân tộc, kể lại cho mai sau về một thời không bao giờ được phép lãng quên. Đó chính là cách để tri ân những anh hùng đã ngã xuống, để hòa bình không chỉ là hiện tại, mà còn là tương lai bền vững cho mọi người dân Việt Nam.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “Chiến tranh đã lùi xa nhưng những hy sinh của dân tộc ta không bao giờ được phép quên.” | Câu chuyện thời hoa lửa