ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP – HẠT NHÂN QUÂN SỰ KIỆT XUẤT, ANH HÙNG LỄ TRÍ VÀ THIÊN TÀI BẢO VỆ TỔ QUỐC

Trong lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam thế kỷ XX, Chủ tịch Hồ Chí Minh là vĩ nhân dẫn đường mở lối. Đồng hành cùng Bác là những người học trò xuất sắc, những nhà lãnh đạo kiên trung đã cống hiến trọn đời cho sự nghiệp độc lập và tự do của Tổ quốc. Trong hàng ngũ những người con kiệt xuất ấy, Đại tướng Võ Nguyên Giáp nổi bật lên như một huyền thoại quân sự, vị Tổng Tư lệnh, người Anh cả của Quân đội Nhân dân Việt Nam, một nhà văn hóa lớn và là người bạn lớn của nhân dân.
Sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911 tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình – mảnh đất ven dòng sông Kiến Giang thơ mộng giàu truyền thống hiếu học và yêu nước, Võ Nguyên Giáp lớn lên trong một gia đình nhà nho giàu lòng nhân ái. Cụ thân sinh ra ông là một nhà nho uyên bác, đã sớm truyền thụ cho con trai tinh thần dân tộc, tư duy lịch sử sắc bén và lòng căm thù giặc sâu sắc. Chính cội nguồn văn hóa và tinh thần yêu nước ấy đã nuôi dưỡng tâm hồn, chắp cánh cho vị tướng huyền thoại tương lai bước vào con đường cách mạng gian khổ nhưng vô cùng vẻ vang.
Thập niên 1920, trước cảnh nước mất nhà tan, Võ Nguyên Giáp đã sớm dấn thân vào các phong trào đấu tranh yêu nước của học sinh, sinh viên. Khi còn theo học tại Trường Quốc Học Huế, ông đã hăng hái tham gia phong trào bãi khóa, vận động đòi ân xá cho cụ Phan Bội Châu và tổ chức truy điệu cụ Phan Châu Trinh. Dù bị đuổi học vì tinh thần cách mạng, ông vẫn kiên trì tự học, thi đỗ Bằng Cử nhân Luật tại Hà Nội và trở thành giáo viên dạy môn Lịch sử tại Trường Tư thục Thăng Long.
Trên bục giảng, thầy giáo Võ Nguyên Giáp không chỉ truyền đạt tri thức lịch sử mà còn thắp lên ngọn lửa yêu nước trong lòng thế hệ trẻ. Ông tích cực tham gia các hoạt động báo chí công khai của Đảng, truyền bá tư tưởng Mác - Lênin. Năm 1940, ông cùng đồng chí Phạm Văn Đồng được cử sang Trung Quốc gặp Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Tại đây, ông được Bác Hồ tin tưởng giao nhiệm vụ chuẩn bị lực lượng quân sự – đánh dấu bước ngoặt lịch sử chuyển từ một thầy giáo dạy sử trở thành vị Tướng cầm quân lừng lẫy thế giới.
Những năm tháng chuẩn bị lực lượng tại chiến khu Việt Bắc là khoảng thời gian rèn luyện bản lĩnh thép cho vị chỉ huy trẻ. Tháng 12 năm 1944, thực hiện chỉ thị của Lãnh tụ Hồ Chí Minh, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã đứng ra thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – tổ chức tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Chỉ với 34 chiến sĩ cùng vũ khí thô sơ tại rừng Trần Hưng Đạo (Cao Bằng), nhưng dưới sự chỉ huy tài tình của ông, đội quân non trẻ đã ra quân đánh thắng liên tiếp hai trận Phai Khắt và Nà Ngần, mở đầu cho truyền thống “quyết chiến, quyết thắng” của Quân đội ta. Ngọn lửa cách mạng từ căn cứ địa Việt Bắc dần lan rộng, trở thành nòng cốt quân sự cho toàn dân đứng lên giành chính quyền.
Tháng 8 năm 1945, dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Ủy ban Khởi nghĩa do đồng chí Võ Nguyên Giáp phụ trách đã phát lệnh Tổng khởi nghĩa. Quân Giải phóng từ Tân Trào tiến về giải phóng Thái Nguyên, hỗ trợ nhân dân cả nước đứng lên giành chính quyền, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.
Năm 1948, để ghi nhận công lao to lớn và đáp ứng yêu cầu phát triển của lực lượng vũ trang trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh phong cấp Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp. Ở tuổi 37, ông trở thành vị Đại tướng đầu tiên và là Tổng Tư lệnh tối cao của Quân đội Nhân dân Việt Nam.
Trong chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954, trước tập đoàn cứ điểm “bất khả xâm phạm” của Pháp, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã thể hiện tư duy quân sự vượt trội và bản lĩnh của một nhà cầm quân vĩ đại. Ban đầu, phương án tác chiến được phê duyệt là “Đánh nhanh, giải quyết nhanh”. Tuy nhiên, sau khi khảo sát kỹ thực địa và lực lượng hai bên, Đại tướng nhận thấy đánh nhanh chứa đựng nguy cơ rủi ro cực kỳ lớn.
Với tinh thần trách nhiệm cao nhất trước xương máu của chiến sĩ và vận mệnh dân tộc, Đại tướng đã đưa ra “quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời cầm quân”: Chuyển từ phương án “Đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “Đánh chắc, tiến chắc”. Quyết định lịch sử ấy đã giúp Quân đội ta từng bước tiêu diệt các cứ điểm, giành chiến thắng hoàn toàn sau 56 ngày đêm “khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm chấm muối”, làm nên một Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, buộc Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ.
Tiếp nối tinh thần đó, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, Đại tướng tiếp tục chỉ đạo các chiến dịch lớn, đặc biệt là mệnh lệnh lịch sử gửi toàn quân trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử năm 1975: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa; xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam, giải phóng hoàn toàn Tổ quốc”, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước.
Không chỉ là một nhà quân sự lỗi lạc được các học giả, tướng lĩnh quốc tế kính trọng xếp vào hàng những vị tướng vĩ đại nhất mọi thời đại, Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn được nhân dân trân trọng gọi bằng cái tên thân thương: “Vị Tướng của Nhân dân”.
Trong suốt các cuộc chiến tranh, ông luôn quán triệt tư tưởng “nhân văn quân sự”: Mọi chiến thắng đều phải trả giá bằng máu xương của đồng bào, chiến sĩ, do đó một người chỉ huy giỏi phải là người biết hạn chế tối đa thương vong cho quân mình. Tấm lòng yêu thương thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ và nhân dân của ông đã biến tình tướng sĩ thành một sức mạnh đoàn kết vô địch.
Bên cạnh vai trò nhà chỉ huy quân sự, Đại tướng Võ Nguyên Giáp còn là một nhà lý luận, nhà viết lịch sử và hồi ký xuất sắc với nhiều tác phẩm kinh điển như: Từ nhân dân mà ra, Điểm hẹn lịch sử, Điện Biên Phủ, Tự hào và tin tưởng… Các tác phẩm của ông không chỉ tổng kết sâu sắc đường lối chiến tranh nhân dân, nghệ thuật quân sự Việt Nam mà còn là nguồn tư liệu lịch sử vô giá cho thế hệ mai sau.
Mỗi trang viết của ông đều thấm đượm tình yêu thương quê hương, lòng tri ân sâu sắc tới Bác Hồ, tới đồng chí, đồng đội và nhân dân cả nước – những người đã làm nên thắng lợi vĩ đại của dân tộc.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp về với thế giới người hiền ngày 04 tháng 10 năm 2013, hưởng thọ 103 tuổi. Sự ra đi của ông đã để lại niềm thương tiếc vô hạn cho toàn thể dân tộc Việt Nam và bạn bè quốc tế. Hàng triệu người dân từ khắp mọi miền đất nước đã kiên nhẫn xếp hàng dài lặng lẽ viếng ông tại căn nhà số 30 Hoàng Diệu và đưa tiễn ông về yên nghỉ tại Vũng Chùa - Đảo Yến (Quảng Bình).
Cuộc đời hơn một thế kỷ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là một tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng: Dĩ công vi thượng, Trung với nước, Hiếu với dân, Cần kiệm liêm chính.
Câu chuyện về cuộc đời ông là một “câu chuyện thời hoa lửa” bất tử, ngọn đuốc soi đường về trí tuệ, bản lĩnh và lòng yêu nước cho thế hệ trẻ hôm nay – những đoàn viên, thanh niên – tiếp tục học tập, cống hiến để xây dựng một Việt Nam hùng cường, phồn vinh như ước nguyện của Bác Hồ và Đại tướng kính yêu.



