Bài viết

Đại tướng Võ Nguyên Giáp-nhà chính trị, quân sự xuất sắc của Đảng

Đại tướng Võ Nguyên Giáp là nhà lãnh đạo kiệt xuất, có nhiều đóng góp to lớn trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên nhiều cương vị quan trọng của Đảng, Nhà nước và Quân đội, ông cùng Trung ương Đảng hoạch định các quyết sách chiến lược, góp phần làm nên thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ. Trong Chiến dịch Điện Biên Phủ, Đại tướng quyết định chuyển phương châm tác chiến sang **“đánh chắc, tiến chắc”**, đồng thời chú trọng công tác chính trị, tư tưởng để củng cố quyết tâm chiến đấu của bộ đội. Sau hòa bình lập lại, ông tiếp tục lãnh đạo xây dựng Quân đội, phát triển đất nước và trực tiếp phụ trách lĩnh vực khoa học – kỹ thuật, góp phần thúc đẩy công cuộc đổi mới. Đại tướng còn có nhiều đóng góp về chiến lược phát triển kinh tế, quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân và phát triển bền vững đất nước. Ông luôn đề cao xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, phát huy dân chủ, chống tham nhũng, quan liêu và giữ vững khối đại đoàn kết toàn dân. Cuộc đời và sự nghiệp của Đại tướng là biểu tượng sáng ngời của lòng yêu nước, trí tuệ, bản lĩnh và tinh thần cống hiến trọn đời vì độc lập, tự do và hạnh phúc của dân tộc Việt Nam.

06/08/2026Xã Tương Dương (Đoàn xã Tương Dương)7 lượt xem0 lượt chia sẻ
Đại tướng Võ Nguyên Giáp-nhà chính trị, quân sự xuất sắc của Đảng

Đại tướng Võ Nguyên Giáp, người học trò xuất sắc và gần gũi của Chủ tịch Hồ Chí Minh; người chiến sĩ cách mạng kiên trung, nhà chỉ huy và nhà lý luận quân sự xuất sắc của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cuộc đời, sự nghiệp, tấm gương đạo đức cách mạng trong sáng, trọn đời vì nước, vì dân của Đại tướng đã góp phần làm nên những chiến thắng vĩ đại trong lịch sử của dân tộc. Tấm gương đạo đức cách mạng của Đại tướng có ý nghĩa to lớn trong việc bồi dưỡng lập trường tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân. Với 103 tuổi đời, hơn 80 năm hoạt động cách mạng, hơn 70 tuổi Đảng, tên tuổi Đại tướng gắn liền với thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Nhà chính trị xuất sắc, một lòng vì Đảng, vì nước, vì dân

Đồng chí Võ Nguyên Giáp, tên khai sinh là Võ Giáp, sinh ra trong một gia đình nhà nho giàu truyền thống yêu nước, tại làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình. Từ khi còn nhỏ, trực tiếp chứng kiến cảnh đồng bào bị đàn áp, bóc lột bởi bè lũ thực dân và tay sai, Võ Nguyên Giáp đã sớm nung nấu ý chí đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng nhân dân. Khi học ở Trường Quốc học Huế, ngoài việc học tập chăm chỉ, Võ Nguyên Giáp rất quan tâm đến hoạt động chính trị. Từ khi tiếp thu được những tư tưởng cách mạng của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, Võ Nguyên Giáp tích cực tham gia hoạt động tuyên truyền cách mạng, tham gia các phong trào đấu tranh bãi khóa trong thanh niên, học sinh.

Năm 1927, đồng chí Võ Nguyên Giáp gia nhập Tân Việt Cách mạng Đảng và đến năm 1929 cùng một số đồng chí tiến hành cải tổ Tân Việt Cách mạng Đảng thành Đông Dương Cộng sản liên đoàn, một trong 3 tổ chức sau này hợp nhất thành Đảng Cộng sản Việt Nam đầu năm 1930. Từ năm 1930 đến năm 1940, đồng chí đã tích cực tham gia Phong trào Xô viết Nghệ-Tĩnh, phong trào dân chủ nửa hợp pháp của Đảng tại Hà Nội và là biên tập viên các tờ báo của Đảng. Khi tham gia các hoạt động này, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã xác định một lòng một dạ theo Đảng, phấn đấu hy sinh vì đất nước, dân tộc và nhân dân.

Bước ngoặt lớn trong cuộc đời và sự nghiệp của đồng chí Võ Nguyên Giáp là được gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tại Trung Quốc (tháng 6-1940). Từ đó, đồng chí Võ Nguyên Giáp đã được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc-Hồ Chí Minh dìu dắt, tin tưởng, trao nhiều trọng trách trên các lĩnh vực mà tổ chức phân công... Với bí danh “Văn”, đồng chí tích cực hoạt động cách mạng, không ngại hiểm nguy, bám dân, bám địa bàn, vận động quần chúng, xây dựng cơ sở, mở lớp huấn luyện quân sự, chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang tại căn cứ địa Cao-Bắc-Lạng.

Những năm 1941-1943, khi được tổ chức phân công phụ trách các đội “Xung phong Nam tiến” tuyên truyền xây dựng cơ sở cách mạng trong quần chúng nhân dân và nối thông liên lạc giữa Cao-Bắc-Lạng với cơ sở đảng ở miền xuôi, đồng chí Võ Nguyên Giáp nhận thức ngày càng rõ hơn về vai trò sức mạnh của quần chúng đối với sự nghiệp cách mạng. Từ đó, yếu tố nhân dân càng ăn sâu vào tư duy quân sự cách mạng của Võ Nguyên Giáp. Trong con người Võ Nguyên Giáp, nhà chính trị đi trước nhà quân sự với nhận thức ngày càng sâu sắc hơn về mối quan hệ giữa hoạt động quân sự với mục đích chính trị của Đảng, mối quan hệ mật thiết giữa lực lượng vũ trang (LLVT) với quần chúng nhân dân. Tháng 12-1944, đồng chí Võ Nguyên Giáp được lãnh tụ Hồ Chí Minh giao nhiệm vụ trực tiếp tổ chức và chỉ đạo hoạt động của Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, đội quân chủ lực đầu tiên của cách mạng Việt Nam, một trong những đội quân tiền thân của Quân đội nhân dân (QĐND) Việt Nam ngày nay.

Trên các cương vị là Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Ban Thường vụ Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương, thành viên Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc, thành viên Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam, Tư lệnh Việt Nam Giải phóng quân, đồng chí có những đóng góp quan trọng vào quyết sách chiến lược của Đảng, chỉ đạo LLVT, cùng toàn thể dân tộc Việt Nam vùng lên đập tan xiềng xích kìm kẹp, áp bức, bóc lột của phong kiến, thực dân; giành lại độc lập, tự do, làm nên thắng lợi của cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945. Trong suốt 9 năm trường kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, dưới sự lãnh đạo sáng suốt, tài tình của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cương vị là Bộ trưởng Bộ Nội vụ, Chủ tịch Kháng chiến Ủy viên Hội, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng-Tổng Chỉ huy rồi Bộ trưởng Bộ Quốc phòng-Tổng Tư lệnh Quân đội quốc gia và Dân quân Việt Nam, đồng chí cùng Ban Thường vụ Trung ương Đảng, Bộ Chính trị đưa ra những quyết sách chiến lược, đồng thời trực tiếp hoạch định và tham gia chỉ huy, điều hành nhiều chiến dịch quan trọng, quyết định làm xoay chuyển tình thế cuộc kháng chiến.

Sau khi quyết định chuyển phương châm tác chiến Chiến dịch Điện Biên Phủ từ “đánh nhanh, giải quyết nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”, nhận thấy trong cán bộ, chiến sĩ tham gia chiến dịch vẫn còn những thắc mắc, băn khoăn, cùng với các hoạt động quân sự, Đại tướng đã chỉ đạo mở đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng trong cán bộ, chiến sĩ toàn mặt trận nhằm quán triệt, thấu suốt tư tưởng “đánh chắc thắng” của Bộ Chính trị, của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Trong đợt 2 chiến dịch này, trước những khó khăn, hy sinh, đã xuất hiện tư tưởng hữu khuynh, tiêu cực, ngại gian khổ, ngại hy sinh trong một bộ phận cán bộ, chiến sĩ, Đại tướng đã chỉ đạo tiến hành một đợt sinh hoạt, đấu tranh với những tư tưởng đó, nêu cao tư tưởng tiến công, củng cố quyết tâm chiến đấu giành chiến thắng cho chiến dịch lịch sử như lời gửi gắm, căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong thư gửi cán bộ và chiến sĩ Mặt trận Điện Biên Phủ trước ngày mở chiến dịch. Đại tướng thực sự vừa là nhà chính trị, vừa là nhà quân sự với phương pháp cách mạng khoa học, biết tạo thời cơ và tận dụng thời cơ để chiến đấu và chiến thắng kẻ thù.

Sau khi miền Bắc được giải phóng, đồng chí cùng Trung ương Đảng lãnh đạo toàn dân, toàn quân tiến hành đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa (XHCN) và đẩy mạnh cách mạng dân tộc, dân chủ nhân dân ở miền Nam, lần lượt đánh bại các chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, làm nên những thắng lợi vẻ vang, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử mùa Xuân năm 1975, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thu non sông về một mối, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. 

Đất nước hòa bình, thống nhất, trên các cương vị: Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Phó thủ tướng Thường trực Chính phủ, Phó chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng, đồng chí cùng tập thể Ban Chấp hành Trung ương, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng lãnh đạo, chỉ đạo toàn dân, toàn quân thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, tiến hành công cuộc đổi mới đất nước. Khi được Đảng, Nhà nước phân công làm Phó thủ tướng phụ trách khoa học kỹ thuật, nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh, dù công việc rất mới mẻ, nhưng Đại tướng đã nêu cao tinh thần “dĩ công vi thượng” và “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”, trực tiếp làm việc và lắng nghe tâm tư nguyện vọng, đề đạt của nhiều nhà khoa học, nhà nghiên cứu, các trí thức, văn nghệ sĩ... Nhờ đó, Đại tướng đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ, góp phần đưa khoa học kỹ thuật Việt Nam từng bước sánh kịp trình độ các nước trong khu vực.

Trong công cuộc đổi mới, với trách nhiệm và tâm huyết của một người lão thành cách mạng đối với sự phát triển của đất nước, bằng khát vọng đưa Việt Nam nhanh chóng phát triển hội nhập với thế giới, Đại tướng tham mưu, đóng góp nhiều ý kiến rất quan trọng cho Đảng và Nhà nước. Đại tướng đã dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế-xã hội Tây Nguyên (1980) và Chiến lược kinh tế và quốc phòng biển (1985), thể hiện nhận thức sâu sắc của Đại tướng về yêu cầu đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học-kỹ thuật để phục vụ việc phát triển kinh tế-xã hội Tây Nguyên và vùng biển nước ta...

Về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh, Đại tướng luôn nhấn mạnh trước hết phải chăm lo xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, giữ vững nguyên tắc Đảng, xây dựng nội bộ đoàn kết, thống nhất đi đôi với mở rộng dân chủ trong Đảng, kiên quyết đấu tranh chống quan liêu, xa rời quần chúng, chống tham nhũng, lãng phí... đẩy lùi tệ nạn xã hội, khắc phục nguy cơ “nội xâm” để làm thất bại âm mưu, chiến lược “diễn biến hòa bình” của kẻ thù; Đảng phải xứng đáng là lương tâm, trí tuệ, danh dự của giai cấp công nhân, của dân tộc Việt Nam, là cơ sở để xây dựng, củng cố Nhà nước thực sự là nhà nước của dân, do dân, vì dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn