Bài viết

Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Từ người thầy dạy Sử đến vị Tổng Tư lệnh của Nhân dân và những quyết định xoay chuyển lịch sử dân tộc

Hành trình hơn một thế kỷ của Đại tướng Võ Nguyên Giáp – người học trò xuất sắc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, vị Đại tướng đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Từ bục giảng trường Tư thục Thăng Long đến khu rừng Trần Hưng Đạo, từ quyết định sinh tử "Đánh chắc, tiến chắc" tại lòng chảo Điện Biên Phủ năm 1954 đến bức điện "Thần tốc, táo bạo" mùa Xuân năm 1975, cuộc đời ông là biểu tượng bất diệt của trí tuệ quân sự Việt Nam, tinh thần "Dĩ công vi thượng" và trái tim nhân hậu luôn trân quý từng giọt máu của người chiến sĩ.

02/10/2026Nguyễn Thị Kiều Oanh (Đoàn Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh)1 lượt xem0 lượt chia sẻ
Đại tướng Võ Nguyên Giáp: Từ người thầy dạy Sử đến vị Tổng Tư lệnh của Nhân dân và những quyết định xoay chuyển lịch sử dân tộc

THÔNG TIN NHÂN CHỨNG LỊCH SỬ

  • Họ và tên đầy đủ: Võ Nguyên Giáp (Bí danh: Văn)

  • Năm sinh: 25/08/1911 – 04/10/2013

  • Phân loại Nhân chứng: Người hoạt động cách mạng / Anh hùng Lực lượng vũ trang Nhân dân

  • Quê quán: Làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình

  • Nơi ở gắn bó lúc sinh thời: Số 30 Hoàng Diệu, quận Ba Đình, TP. Hà Nội (Nơi an nghỉ: Vũng Chùa – Đảo Yến, xã Quảng Đông, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình)

  • I. Khởi nguồn từ dòng Kiến Giang và ngọn lửa yêu nước của người thầy giáo trẻ

    Dòng sông Kiến Giang hiền hòa chảy qua làng An Xá, xã Lộc Thủy, huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình quanh năm chở nặng phù sa và những điệu hò khoan tha thiết. Chính mảnh đất gió Lào cát trắng đầy nắng lửa, nơi giao thoa của những mạch nguồn văn hóa và truyền thống quật cường chống ngoại xâm ấy đã sinh ra và nuôi dưỡng tâm hồn của Võ Nguyên Giáp. Sinh ngày 25 tháng 8 năm 1911 trong một gia đình nhà nho nghèo giàu lòng yêu nước, thân phụ là cụ Võ Quang Nghiêm – một nhà nho đức độ từng tham gia phong trào Cần Vương, thân mẫu là bà Nguyễn Thị Kiên – người phụ nữ tần tảo, nhân hậu, tuổi thơ của cậu bé Giáp đã sớm thấm đẫm những câu chuyện về nghĩa quân đánh Pháp và nỗi đau của một dân tộc mất chủ quyền.

    Những đêm mùa đông lạnh giá bên bếp lửa hồng, nghe cha kể về cụ Phan Đình Phùng, cụ Hoàng Hoa Thám, hay nhìn cảnh người dân quê hương lầm than dưới ách sưu cao thuế nặng, trong lòng người thiếu niên bên bờ Kiến Giang đã sớm hình thành một chí hướng lớn lao. Năm 1925, khi mới 14 tuổi, Võ Nguyên Giáp rời quê hương vào Huế theo học tại trường Quốc học Huế – cái nôi từng đào tạo nhiều bậc chí sĩ cách mạng lỗi lạc của đất nước. Tại mảnh đất kinh kỳ, chàng thanh niên trẻ tuổi đã sớm hòa mình vào các phong trào bãi khóa của học sinh, sinh viên đòi thả nhà yêu nước Phan Bội Châu, để tang cụ Phan Châu Trinh và tham gia Tân Việt Cách mạng Đảng.

    Bị thực dân Pháp đuổi học và bắt giam vào nhà lao Thừa Phủ năm 1930 vì hoạt động yêu nước, tù đày của đế quốc không những không làm nhụt chí người thanh niên ấy mà trái lại, càng tôi luyện thêm bản lĩnh kiên cường của ông. Sau khi ra tù, Võ Nguyên Giáp ra Hà Nội, vừa tự học để thi đỗ tú tài và theo học ngành Luật và Kinh tế chính trị tại Đại học Đông Dương, vừa kiếm sống bằng nghề viết báo và dạy học.

    Tại trường Tư thục Thăng Long (Hà Nội) những năm 1930, thầy giáo trẻ Võ Nguyên Giáp nổi tiếng khắp giới học sinh, sinh viên thời bấy giờ với những bài giảng Lịch sử đầy nhiệt huyết và cuốn hút. Ít ai ngờ rằng, vị danh tướng sau này làm khuynh đảo những học viện quân sự hàng đầu phương Tây lại khởi đầu từ một người thầy chưa từng qua bất kỳ trường lớp đào tạo quân sự chính quy nào. Khi giảng về cuộc Cách mạng Pháp năm 1789, về chiến thuật quân sự của Napoléon hay những chiến công hiển hách của Trần Hưng Đạo trên sông Bạch Đằng, của Quang Trung - Nguyễn Huệ đại phá quân Thanh, đôi mắt người thầy ấy luôn rực sáng. Ông không chỉ truyền thụ cho học trò những mốc thời gian khô khan trên trang giấy, mà thổi vào lồng ngực thế hệ thanh niên trí thức Hà thành ngọn lửa của lòng tự tôn dân tộc và khát vọng giải phóng đất nước. Các học trò của ông ngày ấy thường truyền tai nhau rằng: mỗi giờ học Sử của thầy Giáp là một giờ học về lòng yêu nước.

    Song song với công việc trên bục giảng, ông cùng các đồng chí như Trường Chinh, Phạm Văn Đồng hoạt động sôi nổi trong Mặt trận Dân chủ Đông Dương, viết báo bằng cả tiếng Việt và tiếng Pháp cho các tờ Tiếng nói của chúng ta (Notre Voix), Lao Động, Tin Tức. Ngòi bút sắc bén, tư duy lý luận chặt chẽ của người trí thức trẻ đã góp phần thức tỉnh quần chúng nhân dân, chuẩn bị tiền đề tư tưởng cho những cao trào cách mạng sục sôi sắp tới.

    II. Cuộc gặp gỡ định mệnh với Nguyễn Ái Quốc và nỗi đau riêng hòa vào vận nước

    Mùa hè năm 1940, trước sự đàn áp khốc liệt của thực dân Pháp và những chuyển biến dồn dập của tình hình thế giới khi Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ, Võ Nguyên Giáp được tổ chức bí mật cử sang Côn Minh (Trung Quốc) để gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Trước ngày lên đường, ông có buổi chia tay đầy lưu luyến bên hồ Tây (Hà Nội) với người vợ trẻ là bà Nguyễn Thị Quang Thái – em gái của nhà cách mạng Nguyễn Thị Minh Khai, lúc ấy đang bế trên tay cô con gái đầu lòng Võ Hồng Anh mới vài tháng tuổi. Cả hai đều không thể ngờ rằng, lời hẹn ước "chờ ngày cách mạng thành công sẽ đoàn tụ" bên mặt hồ chiều hôm ấy lại là lần cuối cùng họ được nhìn thấy nhau trong cuộc đời.

    Tại Thúy Hồ (Côn Minh), cuộc gặp gỡ lịch sử với lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã mở ra một chương hoàn toàn mới trong cuộc đời Võ Nguyên Giáp. Sự giản dị, uyên bác và tầm nhìn chiến lược vượt thời đại của Bác Hồ đã chinh phục hoàn toàn người trí thức trẻ. Chính Bác là người đã nhận ra tố chất quân sự đặc biệt ở người thầy giáo dạy Sử và giao cho ông nhiệm vụ nghiên cứu công tác quân sự, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng.

    Năm 1941, theo chỉ thị của Bác Hồ, Võ Nguyên Giáp trở về nước, lăn lộn khắp các bản làng vùng cao Cao Bằng – Bắc Kạn – Lạng Sơn để gây dựng cơ sở cách mạng trong đồng bào các dân tộc thiểu số Tày, Nùng, Dao, Mông. Giữa sương muối rừng già Việt Bắc, ăn cháo bẹ, rau măng, ngủ hang đá lạnh giá, người trí thức Hà thành năm nào đã thực sự hóa thân thành người con của núi rừng, được nhân dân tin yêu, che chở và đùm bọc.

    Cũng chính trong những ngày tháng gian khổ xây dựng căn cứ địa Việt Bắc ấy, một tin dữ như sét đánh ngang tai ập đến với ông vào đầu năm 1944: người vợ hiền Nguyễn Thị Quang Thái đã bị mật thám Pháp bắt giam, tra tấn dã man và hy sinh anh dũng trong nhà lao Hỏa Lò (Hà Nội) ở tuổi 29 khi mắc bệnh thương hàn nặng mà không được cứu chữa. Trước đó không lâu, thân phụ của ông là cụ Võ Quang Nghiêm cũng bị giặc Pháp bắt vào nhà lao Huế và tra tấn đến chết. Nỗi đau mất cha, mất vợ cùng đứa con thơ dại bơ vơ nơi quê nhà như cắt từng khúc ruột. Trong hồi ký của mình sau này, Đại tướng từng nghẹn ngào nhớ lại khoảnh khắc ông một mình bước đi trong rừng sâu Cao Bằng, nước mắt chảy ngược vào tim, biến nỗi đau thương tột cùng của gia đình thành ý chí sắt đá phải đánh đuổi bằng được quân xâm lược để hàng triệu gia đình Việt Nam không còn phải chịu cảnh chia lìa, tan nát.

    Ngày 22 tháng 12 năm 1944, giữa khu rừng Trần Hưng Đạo đại ngàn của vùng núi Nguyên Bình (Cao Bằng), dưới bóng cờ đỏ sao vàng tung bay trong gió núi, đồng chí Võ Nguyên Giáp được lãnh tụ Hồ Chí Minh giao trọng trách tuyên bố thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân – tiền thân của Quân đội Nhân dân Việt Nam anh hùng. Đội quân thuở ban đầu ấy chỉ vẻn vẹn 34 chiến sĩ trong trang phục quần áo chàm của đồng bào dân tộc, vũ khí chỉ có 2 khẩu súng thập (pạc-hoọc), 17 khẩu súng trường, 14 khẩu súng kíp và những thanh mã tấu thô sơ. Thế nhưng, dưới sự chỉ huy của "Anh Văn" (bí danh của đồng chí Võ Nguyên Giáp), 34 con người ấy đã đứng trang nghiêm tuyên thệ Mười lời thề danh dự với quyết tâm hy sinh tất cả vì Tổ quốc.

    Chỉ ba ngày sau khi thành lập, bằng lối đánh mưu trí, cải trang bất ngờ và thần tốc, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân dưới sự chỉ huy trực tiếp của Võ Nguyên Giáp đã liên tiếp hạ gọn hai đồn Phai Khắt và Nà Ngần của địch mà không tốn một viên đạn, thu toàn bộ vũ khí, mở đầu cho truyền thống "Đã ra quân là đánh thắng" của quân đội ta. Từ đốm lửa nhỏ nơi rừng Trần Hưng Đạo, lực lượng vũ trang cách mạng đã lớn mạnh như vũ bão, tiến về giải phóng Thái Nguyên rồi hợp quân cùng nhân dân cả nước làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945 chấn động địa cầu, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

    III. Chín năm trường kỳ kháng chiến và "Quyết định khó khăn nhất cuộc đời" nơi lòng chảo Điện Biên (1946 – 1954)

    Nền độc lập non trẻ vừa giành được chưa bao lâu thì thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta lần thứ hai. Tháng 12 năm 1946, hưởng ứng Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh: "Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ", toàn dân tộc Việt Nam bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ chín năm gian khổ.

    Tháng 1 năm 1948, tại chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lệnh số 110/SL phong quân hàm Đại tướng cho đồng chí Võ Nguyên Giáp khi ông mới 37 tuổi. Trong buổi lễ thụ phong giản dị nhưng trang nghiêm giữa núi rừng, Bác Hồ đã xúc động trao sắc lệnh và căn dặn bằng giọng nói ấm áp: "Việc phong quân hàm Đại tướng cho chú Giáp là kết quả của biết bao hy sinh, chiến đấu của đồng bào, đồng chí. Chú phải cố gắng hơn nữa để làm tròn nhiệm vụ". Khi có nhà báo nước ngoài hỏi Bác về tiêu chuẩn phong tướng trong khi quân đội Việt Nam chưa có trường quy chính thống, Bác Hồ đã trả lời một câu đi vào lịch sử: "Đánh thắng đại tá thì phong đại tá, đánh thắng thiếu tướng thì phong thiếu tướng, thắng trung tướng thì phong trung tướng, thắng đại tướng thì phong đại tướng!".

    Trải qua các chiến dịch Việt Bắc Thu - Đông (1947), chiến dịch Biên giới (1950), Hòa Bình (1951), Tây Bắc (1952), tài năng thao lược của vị Tổng Tư lệnh trẻ tuổi ngày càng tỏa sáng. Nhưng đỉnh cao chói lọi nhất định hình nên tầm vóc thiên tài quân sự của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, đồng thời thể hiện rõ nét nhất nhân cách của một vị tướng thương dân, quý máu từng người lính, chính là Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.

    Đầu năm 1954, thực dân Pháp được sự viện trợ tối đa của Mỹ đã xây dựng Điện Biên Phủ thành một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, một "pháo đài bất khả xâm phạm", một "con nhím khổng lồ" với 49 cứ điểm chia làm 3 phân khu, gồm 16.200 quân tinh nhuệ cùng hệ thống pháo binh, xe tăng, sân bay hiện đại nhằm thách thức và nghiền nát chủ lực của ta. Trước giờ lên đường ra mặt trận tại khu rừng Tỉn Keo (ATK Định Hóa, Thái Nguyên), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nắm chặt tay Đại tướng Võ Nguyên Giáp và trao một trọng trách mang sức nặng ngàn cân: "Tướng quân tại ngoại. Trao cho chú toàn quyền quyết định. Trận này rất quan trọng, phải đánh cho thắng! Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng, không đánh."

    Tại mặt trận Điện Biên Phủ, hàng vạn bộ đội và dân công hỏa tuyến đã đổ mồ hôi, nước mắt và cả máu xương để dùng sức người kéo những khẩu lựu pháo 105mm nặng hơn hai tấn vượt qua những dốc núi dựng đứng, vực sâu thăm thẳm vào trận địa. Theo kế hoạch ban đầu của ban chỉ huy và đoàn cố vấn quân sự, phương châm tác chiến được xác định là "Đánh nhanh, giải quyết nhanh", dùng sức mạnh ồ ạt thọc sâu vào trung tâm Mường Thanh, dự kiến nổ súng vào lúc 17 giờ ngày 25 tháng 1 năm 1954 (sau lùi lại đêm 26 tháng 1) để kết thúc chiến dịch chỉ trong hai đêm ba ngày. Lúc ấy, khí thế toàn quân đang hừng hực như nước vỡ bờ, các chiến sĩ đã viết thư quyết tâm, ai cũng mong muốn đánh một trận chớp nhoáng để sớm ăn Tết chiến thắng.

    Thế nhưng, trong căn lán chỉ huy đơn sơ lợp lá rừng, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trải qua mười một ngày đêm mất ngủ với sự trăn trở tột cùng. Qua mạng lưới trinh sát và thực tế chiến trường, ông phát hiện ra ba khó khăn chí mạng mà ta chưa thể khắc phục: Thứ nhất, quân Pháp không còn ở trạng thái lâm thời phòng ngự mà đã củng cố công sự vô cùng vững chắc với hệ thống hầm ngầm, dây thép gai và bãi mìn dày đặc; Thứ hai, bộ đội chủ lực của ta từ trước đến nay mới chỉ quen đánh tiêu diệt từng tiểu đoàn địch trong công sự lẻ, chưa từng có kinh nghiệm hiệp đồng binh chủng bộ binh – pháo binh quy mô lớn đánh công kiên ban ngày trên địa hình cánh đồng bằng phẳng; Thứ ba, hỏa lực pháo binh và không quân của địch hoàn toàn áp đảo.

    Đêm 25 rạng sáng ngày 26 tháng 1 năm 1954 – chỉ còn tính bằng giờ trước thời점 điểm khai hỏa – cơn đau đầu dữ dội hành hạ vị Tổng Tư lệnh. Bác sĩ riêng phải dùng những nắm ngải cứu hơ nóng buộc lên trán để giúp ông dịu bớt căng thẳng. Nhưng nỗi đau thể xác không thấm tháp gì so với cuộc giằng xé dữ dội trong tâm can. Một bên là ý kiến của các chuyên gia cố vấn dày dạn kinh nghiệm, là sự đồng thuận của hầu hết các tướng lĩnh trong Bộ chỉ huy mặt trận, là công sức máu xương kéo pháo suốt bao ngày đêm và khí thế đang lên cao vút của hàng vạn binh sĩ; một bên là sinh mệnh của hàng vạn con em nhân dân và vận mệnh của cả cuộc kháng chiến nếu trận đánh thất bại.

    Sáng sớm ngày 26 tháng 1 năm 1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp triệu tập cuộc họp khẩn cấp của Đảng ủy mặt trận. Bằng bản lĩnh độc lập phi thường và tinh thần "Dĩ công vi thượng" (đặt lợi ích tối cao của Tổ quốc và nhân dân lên trên hết), ông đã đưa ra điều mà sau này ông gọi là "Quyết định khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huy của tôi": Hoãn cuộc tiến công ngay trước giờ nổ súng, ra lệnh cho toàn bộ các đại đoàn lui quân về vị trí tập kết, kéo pháo ra khỏi trận địa để chuyển sang phương châm "Đánh chắc, tiến chắc".

    Trong cuộc họp căng thẳng tột độ sáng hôm đó, khi có những ý kiến băn khoăn về việc bộ đội đã sẵn sàng hy sinh và công sức kéo pháo vào là quá lớn, Đại tướng đã nhìn thẳng vào các đồng chí trong Đảng ủy và đặt một câu hỏi chạm đến tận cùng lương tri của người cầm quân: "Tôi hỏi các đồng chí, trước khi đi Bác Hồ đã dặn: Chắc thắng mới đánh, không chắc thắng không đánh. Vậy nếu giữ phương án đánh nhanh thắng nhanh, các đồng chí có dám đảm bảo chắc thắng 100% hay không?". Cả căn hầm chỉ huy lặng đi. Không một ai dám khẳng định chắc thắng hoàn toàn. Cuối cùng, toàn thể Đảng ủy mặt trận đã thống nhất tuyệt đối với quyết định lịch sử của Đại tướng Tổng Tư lệnh.

    Kéo pháo vào đã gian khổ muôn phần, kéo pháo ra dưới làn đạn pháo câu chặn và máy bay oanh tạc điên cuồng của kẻ thù lại càng đẫm máu và nước mắt hơn gấp bội. Hình ảnh người chiến sĩ pháo binh Tô Vĩnh Diện hy sinh thân mình chèn bánh pháo để cứu khẩu pháo khỏi lao xuống vực sâu nơi dốc Chuối đã làm thắt lòng vị Tổng Tư lệnh. Nhưng chính sự chuyển hướng chiến lược thiên tài ấy đã cứu sống hàng vạn sinh mạng chiến sĩ và xoay chuyển hoàn toàn cục diện chiến trường.

    Thay vì đánh ồ ạt trong vài ngày, dưới sự chỉ đạo của Đại tướng Võ Nguyên Giáp, quân đội ta đã kiến tạo nên một kỳ tích quân sự chưa từng có: đào hơn 200 cây số giao thông hào gồm hào trục và hào nhánh vây lấn, siết chặt chiếc thòng lọng khổng lồ bóp nghẹt từng cứ điểm của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Suốt 56 ngày đêm "khoét núi, ngủ hầm, mưa dầm, cơm vắt, máu trộn bùn non, gan không núng, chí không mòn" (từ ngày 13/3/1954 đến ngày 07/5/1954), quân ta lần lượt bóc gỡ từng "cánh cửa thép" Him Lam, Độc Lập, Bản Kéo, giành giật từng tấc đất trên đồi A1 đẫm máu.

    Đúng 17 giờ 30 phút ngày 7 tháng 5 năm 1954, lá cờ "Quyết chiến - Quyết thắng" của Quân đội Nhân dân Việt Nam tung bay kiêu hãnh trên nóc hầm chỉ huy của tướng Pháp Christian de Castries. Chiến thắng Điện Biên Phủ "lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu" không chỉ buộc thực dân Pháp phải đặt bút ký Hiệp định Genève, chấm dứt ách thống trị thực dân cũ trên đất nước ta, mà còn trở thành ngọn hải đăng cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc của hàng chục quốc gia thuộc địa ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh. Với thế giới, cái tên "Võ Nguyên Giáp - Điện Biên Phủ" đã trở thành biểu tượng của sức mạnh chính nghĩa chiến thắng bạo tàn.

    IV. Bản lĩnh trí tuệ trong cuộc đụng đầu lịch sử chống Mỹ cứu nước và Đại thắng mùa Xuân 1975

    Sau năm 1954, đất nước tạm thời bị chia cắt làm hai miền. Trên cương vị Ủy viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tư lệnh Quân đội Nhân dân Việt Nam, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cùng Trung ương Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lại bước vào một cuộc trường chinh mới: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc trước sự can thiệp của đế quốc Mỹ – cường quốc có tiềm lực kinh tế và quân sự hùng mạnh bậc nhất thế giới.

    Bằng tầm nhìn chiến lược sâu rộng, năm 1959, Quân ủy Trung ương và Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã trực tiếp chỉ đạo thành lập Đoàn 559 để mở tuyến đường vận tải quân sự chiến lược Trường Sơn (Đường mòn Hồ Chí Minh trên bộ) và Đoàn 759 mở Đường Hồ Chí Minh trên biển. Với phương châm "Đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng" thuở ban đầu, tuyến đường Trường Sơn đã phát triển thành một mạng lưới giao thông vĩ đại xuyên qua rừng rậm và mưa bom bão đạn, chi viện hàng triệu tấn vũ khí, lương thực và hàng chục vạn cán bộ, chiến sĩ từ hậu phương lớn miền Bắc cho tiền tuyến lớn miền Nam.

    Trong những năm tháng chiến tranh phá hoại miền Bắc của không quân và hải quân Mỹ, đặc biệt là cuộc tập kích đường không chiến lược bằng siêu pháo đài bay B-52 vào Hà Nội và Hải Phòng trong 12 ngày đêm cuối tháng 12 năm 1972 (Chiến dịch Linebacker II), Đại tướng Võ Nguyên Giáp thường xuyên có mặt tại Sở chỉ huy Quân chủng Phòng không - Không quân và các trận địa tên lửa giữa lòng Thủ đô đang rung chuyển dưới bom đạn. Sự điềm tĩnh, quyết đoán của vị Tổng Tư lệnh cùng việc chỉ đạo nghiên cứu thành công cách đánh B-52 từ sớm đã giúp quân và dân miền Bắc lập nên kỳ tích "Hà Nội – Điện Biên Phủ trên không", bắn rơi 81 máy bay Mỹ (trong đó có 34 pháo đài bay B-52), buộc chính quyền Washington phải ký Hiệp định Paris năm 1973, rút hết quân viễn chinh Mỹ về nước.

    Mùa Xuân năm 1975, dù tuổi đã cao, trong căn phòng tác chiến tại Tổng hành dinh (Khu A – Thành cổ Hà Nội), bộ óc chiến lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn từng giờ, từng phút đập cùng nhịp bước chân của các binh đoàn chủ lực trên khắp chiến trường miền Nam. Sau thắng lợi vang dội của chiến dịch Tây Nguyên với đòn điểm huyệt Buôn Ma Thuột và chiến dịch Huế – Đà Nẵng, nhận thấy thời cơ chiến lược ngàn năm có một đã chín muồi, Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương quyết định mở Chiến dịch Hồ Chí Minh giải phóng Sài Gòn – Gia Định trước mùa mưa.

    Ngày 7 tháng 4 năm 1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã ký và truyền đi bức điện mật lịch sử mang số hiệu 157-HĐK gửi các cánh quân đang tiến về Sài Gòn. Từng câu chữ trong bức điện vang lên như hồi kèn xung trận hào sảng thúc giục toàn quân: "Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ từng phút, xốc tới mặt trận, giải phóng miền Nam. Quyết chiến và toàn thắng!". Mệnh lệnh của vị Tổng Tư lệnh đã biến thành sức mạnh vật chất phi thường, đưa năm cánh quân hợp điểm thần tốc tiến thẳng vào sào huyệt cuối cùng của địch. Trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, lá cờ Giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập, khép lại 30 năm chiến tranh giải phóng dân tộc (1945 – 1975), thu non sông về một mối, thỏa lòng mong ước của Bác Hồ kính yêu.

    V. Vị Đại tướng của Nhân dân, trái tim nhân hậu giữa đời thường và ngọn lửa truyền trao thế hệ trẻ

    Đi qua hai cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, đánh bại những danh tướng hàng đầu của Pháp và Mỹ, tên tuổi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp được ghi danh vào Bách khoa toàn thư quân sự thế giới như một trong những thiên tài quân sự lỗi lạc nhất mọi thời đại. Thế nhưng, điều làm nên sự vĩ đại sâu sắc nhất của ông trong lòng hàng triệu người dân Việt Nam lại chính là nhân cách bình dị, khiêm nhường và một trái tim nhân hậu luôn đau đáu vì nhân dân, vì người lính.

    Sinh thời, bất cứ khi nào các học giả hay nhà báo quốc tế ca ngợi ông là "vị tướng huyền thoại", "Napoléon Đỏ", Đại tướng đều mỉm cười hiền từ và lắc đầu từ chối. Ông luôn khẳng định một chân lý xuất phát từ tận đáy lòng: "Nếu không có nhân dân thì không có quân đội, không có bất kỳ vị tướng nào cả. Công lao lớn nhất thuộc về Chủ tịch Hồ Chí Minh, thuộc về Đảng, thuộc về nhân dân Việt Nam anh hùng và những người chiến sĩ đã ngã xuống trên khắp các chiến trường. Vị tướng dù có công lao lớn đến đâu cũng chỉ là một giọt nước trong biển cả mênh mông của dân tộc."

    Với Đại tướng Võ Nguyên Giáp, thước đo cao nhất của một người cầm quân không chỉ là chiến thắng, mà là giành chiến thắng với sự hy sinh xương máu ít nhất của bộ đội. Trong suốt cuộc đời mình, mỗi khi trở lại thăm chiến trường xưa tại Điện Biên Phủ hay Nghĩa trang Liệt sĩ Trường Sơn, người ta lại thấy vị Đại tướng đầu bạc trắng đứng lặng hàng giờ trước những hàng bia mộ trắng xóa, đôi mắt rưng rưng lệ. Tại ngôi nhà số 30 Hoàng Diệu (Hà Nội) rợp bóng cây xanh, cánh cổng nhà ông luôn mở rộng để đón những người cựu chiến binh cụt chân, cụt tay, những nữ thanh niên xung phong năm xưa nơi ngã ba Đồng Lộc, Truông Bồn, và những Bà mẹ Việt Nam Anh hùng từ khắp mọi miền Tổ quốc về thăm. Ông nắm chặt từng bàn tay chai sần, hỏi thăm từng hoàn cảnh gia đình, lắng nghe tâm tư của từng người đồng đội cũ như một người anh cả trong gia đình.

    Ngay cả khi đã rời cương vị lãnh đạo quân đội để phụ trách công tác khoa học - kỹ thuật, giáo dục và dân số, hay khi đã nghỉ hưu ở tuổi bách niên, trí tuệ của Đại tướng vẫn không ngừng nghỉ vì sự phát triển bền vững của đất nước. Ông viết hàng chục tác phẩm lý luận quân sự và hồi ký lịch sử vô giá (Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử, Chiến đấu trong vòng vây, Tổng hành dinh trong mùa Xuân toàn thắng...), đồng thời gửi nhiều bức thư tâm huyết kiến nghị với Đảng và Nhà nước về việc bảo vệ môi trường sinh thái, giữ gìn rừng đầu nguồn Tây Nguyên, phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng của Tổ quốc và chấn hưng nền giáo dục nước nhà.

    Ngày 4 tháng 10 năm 2013, trái tim của vị Đại tướng huyền thoại đã ngừng đập tại Bệnh viện Trung ương Quân đội 108 khi ông bước sang tuổi 103. Trong những ngày Quốc tang tháng 10 mùa thu năm ấy, cả dân tộc Việt Nam như lặng đi trong niềm tiếc thương vô hạn. Hàng triệu người dân từ cụ già cựu chiến binh ngực đeo đầy huân chương đến những em nhỏ học sinh, những bạn trẻ sinh viên đã tự nguyện xếp hàng dài hàng cây số suốt ngày đêm từ phố Hoàng Diệu, nhà tang lễ Trần Thánh Tông cho đến tận sân bay Nội Bài và dọc theo quốc lộ ở quê nhà Quảng Bình để được cúi đầu tiễn biệt "Anh Văn" – Vị Đại tướng của Nhân dân về yên nghỉ vĩnh hằng tại Vũng Chùa – Đảo Yến, nơi có sóng biển Đông vỗ về và dãy Hoành Sơn hùng vĩ che chở.

    Hơn một thế kỷ sống và cống hiến trọn vẹn cho Tổ quốc, cuộc đời của Đại tướng Võ Nguyên Giáp là minh chứng sống động nhất cho sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam.

    Bạn cũng đang lưu giữ
    một câu chuyện lịch sử?

    Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

    Gửi câu chuyện của bạn