ĐẠI TƯỚNG VÕ NGUYÊN GIÁP: TƯỢNG ĐÀI VĨNH CỬU CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM
Trong suốt chiều dài hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã sản sinh ra biết bao anh hùng hào kiệt. Nhưng có một cái tên mà khi nhắc đến, không chỉ người dân Việt Nam cúi đầu kính trọng mà cả thế giới cũng phải nghiêng mình ngưỡng mộ: Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Ông không chỉ là một vị tướng cầm quân, mà còn là biểu tượng của ý chí quật cường, trí tuệ mẫn tiệp và tấm lòng nhân hậu bao dung. Cuộc đời của ông là một pho sử sống, gắn liền với những trang sử vẻ vang nhất của dân tộc
Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh ngày 25/8/1911 tại vùng quê nghèo Lệ Thủy, Quảng Bình – mảnh đất miền Trung đầy nắng gió nhưng giàu truyền thống hiếu học. Lớn lên trong bối cảnh đất nước bị thực dân Pháp đô hộ, ông sớm hình thành tư tưởng yêu nước.
Năm 1925, khi mới 14 tuổi, ông đã bắt đầu tham gia các phong trào học sinh yêu nước. Từ một thanh niên trí thức đầy nhiệt huyết tại trường Quốc học Huế đến khi trở thành thầy giáo dạy Sử tại trường Thăng Long (Hà Nội), ông luôn đau đáu nỗi niềm cứu nước. Những bài giảng của ông không chỉ là kiến thức, mà còn là lời kêu gọi lòng tự tôn dân tộc. Năm 1940, ông sang Trung Quốc gặp lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, bước ngoặt lớn nhất quyết định sự nghiệp cách mạng của ông bắt đầu từ đây.
Ngày 22/12/1944, tại khu rừng Trần Hưng Đạo (Cao Bằng), theo chỉ thị của Hồ Chủ tịch, Võ Nguyên Giáp đã thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân. Với 34 chiến sĩ và những khẩu súng kíp thô sơ, ông đã tạo nên một lực lượng mà sau này trở thành
đội quân bách chiến bách thắng.
Phong cách cầm quân của ông rất đặc biệt: Ông không được đào tạo qua bất kỳ trường lớp quân sự chính quy nào, nhưng bằng tư duy sắc bén và sự thấu hiểu sâu sắc nghệ thuật quân sự dân gian, ông đã sáng tạo nên cách đánh lấy ít địch nhiều, lấy yếu thắng mạnh. Dưới sự lãnh đạo của ông, quân đội ta đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, khẳng định vị thế của một quân đội từ nhân dân mà ra.
Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954 là đỉnh cao chói lọi trong sự nghiệp của Đại tướng.Trước một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương của Pháp, Đại tướng đã đưa ra một quyết định được coi là khó khăn nhất trong cuộc đời chỉ huycủa mình: chuyển phương châm từ “đánh nhanh, thắng nhanh” sang “đánh chắc, tiến chắc”. Quyết định này đã thể hiện một bản lĩnh chính trị tuyệt vời và trách nhiệm cao nhất trước xương máu của chiến sĩ. Chiến thắng Điện Biên Phủ không chỉ kết thúc ách thống nhất của thực dân Pháp tại Việt Nam mà còn là hồi chuông báo tử cho chủ nghĩa thực dân trên toàn thế giới. Tên tuổi của Võ Nguyên Giáp kể từ đó đã sánh ngang với các danh tướng vĩ đại nhất lịch sử nhân loại như Napoleon hay Hannibal.
Sau năm 1954, đất nước bị chia cắt, Đại tướng tiếp tục gánh vác trọng trách Tổng Tư lệnh trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Ông là người trực tiếp chỉ đạo các chiến dịch lớn, từ đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại trên bộ và trên biển, đến cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968.
Đặc biệt, trong những ngày tháng Tư lịch sử năm 1975, bức điện mật với mệnh lệnh: “Thần tốc, thần tốc hơn nữa; táo bạo, táo bạo hơn nữa” của ông đã trở thành động lực thôi thúc các cánh quân tiến về Sài Gòn, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Đó là kết quả của một tầm nhìn chiến lược vĩ đại và một niềm tin sắt đá vào thắng lợi cuối cùng.
Điều khiến Võ Nguyên Giáp trở nên vĩ đại không chỉ là những chiến công mà là nhân cách của một con người bình dị. Người dân Việt Nam trìu mến gọi ông là “Bác Giáp”hay “Anh Cả”. Ông luôn coi mình là một người lính già, luôn lo lắng cho đời sống của từng chiến sĩ.
Trong những năm tháng cuối đời, khi đã rời xa binh nghiệp, ông vẫn luôn dành tâm huyết cho sự nghiệp giáo dục, khoa học và sự phát triển của đất nước. Ông là một người yêu chuộng hòa bình sâu sắc, cầm súng chỉ để buộc kẻ thù phải đặt súng xuống. Thế giới vinh danh ông là một trong những vị tướng vĩ đại nhất, nhưng với ông, phần thưởng cao quý nhất chính là tình yêu của nhân dân.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đi vào cõi vĩnh hằng, nhưng ánh sáng từ cuộc đời và sự nghiệp của ông vẫn mãi soi rọi. Ông là tấm gương sáng ngời về đạo đức cách mạng “Dĩ công vi thượng”, về lòng kiên trung bất khuất. Thế hệ trẻ Việt Nam hôm nay và mai sau sẽ luôn nhìn vào cuộc đời của ông để tự hào, để học tập và để tiếp bước trên con đường xây dựng đất nước Việt Nam hùng cường, sánh vai với các cường quốc năm châu như mong ước của Bác Hồ và Đại tướng.



