Đám hỏi liều lĩnh trước giờ chiến dịch - trích "Thư cho em"
Đầu năm 1953, ba 25 tuổi, đang tham gia tập huấn ở Việt Bắc, mẹ 19 tuổi, vẫn đang học bổ túc văn hóa tại Mậu Lâm, Nghệ An.
Sau khi viết thư cho ông nội và bác Phượng bày tỏ ý muốn ăn hỏi và cưới mẹ làm vợ (Lúc này mẹ tôi vẫn không hề biết chuyện), đồng chí Hoàng Dan - tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn Lê Lợi, Trung đoàn 66-F304 được điều động tham gia chiến dịch Thượng Lào ở vị trí chỉ huy cánh quân chủ lực.
Từ Việt Bắc, ba về sư đoàn đóng ở Thanh Hóa, sau đó trở về Nghệ An họp khoảng mười ngày, chuẩn bị hội quân cùng các đơn vị khác tiến sang đất Lào.
Đến Đô Lương, Nghệ An, ba được bác Khuê, anh trai ruột của ba, thông báo là gia đình đang chuẩn bị sang nhà bà ngoại tôi đặt vấn đề, giục ba nếu được thì về ăn hỏi rồi đi chiến dịch.
Khi ấy, lệnh của quân đội là hành quân bí mật, nơi đơn vị ba đóng quân cũng là bí mật, ông nội tôi không biết ba đã về Nghệ An.
Làm thế nào để được về quê hỏi vợ bây giờ?
Ba đã có một quyết định rất táo bạo: ông thuyết phục chính ủy trung đoàn cho phép mình rời đơn vị một ngày để về hỏi vợ!
Phải biết là thời chiến, việc rời khỏi vị trí chiến đấu vì bất cứ lý do gì cũng phải được lãnh đạo Đảng - chính trị viên, chính ủy quyết định. Khi tham gia trận đánh quan trọng, nhất là trong giai đoạn chuẩn bị bí mật như chiến dịch Thượng Lào, không ai được phép rời khỏi đội ngũ, đặc biệt là ở vị trí chỉ huy như ba khi ấy. Vì vậy, việc xin về hỏi vợ là một hành động rất liều lĩnh và ba có thể đối diện với nguy cơ bị kỷ luật nặng. Chính ủy chỉ huy của ba cũng rất liều lĩnh khi đồng ý cho ông rời đơn vị vào lúc đó. Chưa kể là ba hoàn toàn không biết đường, trên đường về có khả năng gặp địch, cướp bóc, thú dữ, bởi Đô Lương thuở ấy vẫn là một vùng bán sơn địa hoang sơ...
Không biết ba nói chuyện với cấp trên ra sao, ông đã nhận được cái gật đầu của lãnh đạo trung đoàn. Ông được phép rời đơn vị về quê với điều kiện một đêm duy nhất, từ chiều tối đi thẳng một mạch về quê và sáu giờ sáng hôm sau phải có mặt tại đơn vị.
Hành động khuất mắt trông coi của cấp trên được ông nhắc mãi, bởi chính ủy cũng đang “đánh cược” một ván vào ông.
Đêm tối mù mịt và những bất trắc của chiến tranh không ngăn được bước chân người lính khát khao tìm hạnh phúc. Ngay từ chiều ngày 23/3/1953, ba đã nhờ báo vụ của mình cấp tốc báo tin cho ông nội và bác Khuê lên ngay nhà bà ngoại, ba sẽ gặp mọi người ở đó.
Chạng vạng, không một lễ vật gì, ông hăm hở lên xe. Một mình một xe đạp ông vượt năm mươi cây số trong đêm từ Đô Lương về Cửa Hội ăn hỏi mẹ.
Ba đạp xe một mạch bốn năm tiếng đồng hồ, thẳng về đến nhà bà ngoại tôi, lúc ấy đã hơn chín giờ tối. Biết bao nhiêu hàm hở, mong chờ suốt những ngày qua và suốt quãng đường gập ghềnh trong đêm tối. Đập lại chàng trai trẻ là một không khí im lìm. Trong nhà chỉ có bà ngoại và em trai mẹ Vinh. Không thấy thầy, bác Phượng và anh Khuê. Và nhất là...
... không thấy cô An Vinh đâu cả.
Bà ngồi chờ, lòng như lửa đốt. Mãi sau thì ông nội tôi lên. Nhưng mẹ An Vinh vẫn chẳng thấy tăm hơi. Quỹ thời gian cứ cạn dần. Gần một giờ đêm, ba sẽ buộc phải quay về đơn vị.
Tám năm sau, trong bức thư ôn lại kỷ niệm xưa với vợ, sự hồi hộp còn nguyên trong câu chữ ông:
“Tháng 3/1953, em có nhớ rõ ai đi chiến dịch Thượng Lào phải tuyệt đối giữ bí mật không? Nhưng một đêm tối trời anh đã đánh bạo đi năm mươi cây về để gặp em một tiếng để rồi lại đi vào một giờ sáng.
Trên đường về anh hy vọng sẽ thấy em ngay và anh chắc chắn thầy cũng đã có mặt ở đó rồi.
Nhưng chín giờ tối về đến nhà, thầy cũng không thấy, em cũng không thấy. Anh định chờ một giờ rồi sẽ đi ngay nên nói với bác Thức là đi công tác tạt qua.
Chào ôi buồn quá nhưng biết làm sao, nhất định là sáu giờ sáng mai đã phải có mặt ở đơn vị rồi.
Đi tìm một bức ảnh của em trong nhà cũng không...
Anh đương chán nản thì thầy lên vì anh đã viết thư cho thầy biết trước đêm ấy anh về gặp em và chỉ vì đêm ấy thôi. Gặp thầy là anh định đi tìm em ngay, thầy cũng đồng ý, chỉ bác Thức ngại không tìm được.”
(Thư ba gửi mẹ, năm 1961)
Ba kể lại, không khí trong nhà bà ngoại khi ấy rất căng thẳng, nhất là ba – không chỉ vì mình “trốn đơn vị về nhà”, mà còn vì cô gái mình yêu, người “vợ” mình mơ khi ấy chưa hề nhận được thông tin nào về cuộc gặp gỡ này, hoàn toàn không biết điều gì sắp xảy ra.
Quan trọng hơn là thời gian sắp hết! Đã nhờ những người đi tìm, nhưng không biết có kịp hay không. Tới mười hai giờ mà cô An Vinh chưa về, thì dẫu thế nào ba cũng không thể hỏi vợ được! Ba sẽ phải trở lại đơn vị “tay trắng” cùng một tâm hồn đau khổ.
Mười một giờ hơn, ba đã chuẩn bị tinh thần quay xe về đơn vị.
Gần mười hai giờ, mẹ về.
Cô gái trẻ buổi sáng đi họp phụ nữ trên huyện, buổi tối ở lại sinh hoạt cùng chị em, không ý thức được giờ phút quan trọng trong đời mình sắp đến. Tối đến, mẹ ngủ lại ở trụ sở, khi có người nhà đến báo “Về ngay, mẹ bệnh nặng” cô An Vinh hốt hoảng đi về, suốt dọc đường lo lắng không thôi.
Về đến nhà, vào trong nhà, thấy rất đông người, và “anh Đan” ở giữa nhà rồi, cô An Vinh vẫn không hề nghĩ chồng tương lai của mình đang ngồi trước mặt.
Trái với sự lúng túng của đôi trẻ – nhất là mẹ khi ấy, người lớn trong nhà rất hoan hỉ. Khi thấy con cái đã đông đủ, bà ngoại và ông nội ngồi xuống nói chuyện, bác Khuê và bác Phượng thì cắt cử người đi nấu cháo gà, nấu thật nhanh vì “thằng bé Đan” đến một giờ đêm lại phải đi rồi!
Khi ấy mẹ mới vỡ lẽ – hóa ra không phải mẹ mình bị ốm, mà là nhà anh Đan đến ăn hỏi mình! Cô gái trẻ bỗng thấy ngượng ngùng quá thể, và thầm trách anh Đan không báo cho biết trước.
Thế là trong hơn một giờ, mọi người lo bữa ăn đêm và hỏi thăm tình hình của nhau, kỳ lạ là không thấy hai gia đình trao đổi gì về chuyện ba mẹ cả. Đôi trẻ cũng hỏi thăm nhau vài ba câu, chưa hề nói một câu nào gọi là thổ lộ tình yêu. Giữa đám đông họ chỉ nhìn nhau qua ánh nến bập bùng, không được nắm tay nhau và cũng chẳng có lúc nào riêng tư nói chuyện. Nhưng mẹ không phản đối thì tức là đồng ý. “Ăn thì có ăn cháo gà. Hỏi thì không ai hỏi gì cả,” – ba bảo vậy.
Cứ như vậy, họ đã thành đôi. Tình yêu thời chiến giản đơn như thế.
Người lính chỉ một giờ trước còn căng thẳng, nay phấn khởi quay về đơn vị chuẩn bị cho cuộc hành quân lớn nhất kể từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp.
Hôm đó là ngày 24/3/1953. Đó cũng là ngày ba gửi cho mẹ bức thư đầu tiên, bức thư viết vội trước lúc vào chiến dịch, khởi đầu cho mối tình năm mươi năm của họ.



