đảm nhận những nhiệm vụ thầm lặng nhưng vô cùng sống còn đối với hậu phương kháng chiến. căn Hêng
Năm 1957, khi tuổi đời còn rất trẻ, bà Căn Hêng rời bản làng, bước vào con đường cách mạng. Suốt 13 năm ròng rã (1957–1976), bà công tác tại Trại Sản xuất Khu ủy – C19 – K200 – Quân khu 4, đảm nhận những nhiệm vụ thầm lặng nhưng vô cùng sống còn đối với hậu phương kháng chiến.
Sinh năm 1943, lớn lên giữa núi rừng A Đeng – A Ngo, Căn Hêng mang trong mình hơi thở của Trường Sơn hùng vĩ và khắc nghiệt. Tuổi thơ của bà gắn với đói nghèo, bom đạn và những đêm dài nghe tiếng máy bay gầm rú trên đầu. Nhưng chính trong gian khó ấy, ngọn lửa yêu nước đã sớm nhen lên trong trái tim người con gái miền sơn cước.
Năm 1957, khi tuổi đời còn rất trẻ, bà Căn Hêng rời bản làng, bước vào con đường cách mạng. Suốt 13 năm ròng rã (1957–1976), bà công tác tại Trại Sản xuất Khu ủy – C19 – K200 – Quân khu 4, đảm nhận những nhiệm vụ thầm lặng nhưng vô cùng sống còn đối với hậu phương kháng chiến.
Không trực tiếp cầm súng nơi tuyến lửa, nhưng từng bát gạo, từng củ sắn, từng tấm áo vá vai mà bà cùng đồng đội làm ra đều mang theo mồ hôi, nước mắt – và cả máu. Giữa rừng sâu, trại sản xuất vừa là nơi lao động, vừa là mục tiêu đánh phá ác liệt của kẻ thù. Có những ngày bom rơi sát lán, đất đá vùi lấp nương rẫy, bà lại cùng đồng đội lặng lẽ dựng lại từ đầu, không một lời than vãn.
Những đêm Trường Sơn mưa rừng xối xả, bà Căn Hêng ngồi bên bếp lửa, hong từng nắm thóc, lo cho bữa ăn ngày mai của cán bộ, chiến sĩ. Giữa cái đói, cái rét và nỗi mất mát luôn cận kề, bà vẫn kiên cường bám trụ, bởi bà hiểu: hậu phương vững thì tiền tuyến mới mạnh.
Ngày đất nước thống nhất, bà trở về với bản làng trong niềm vui lặng lẽ. Không huân chương lấp lánh, không lời kể công, nhưng 13 năm thanh xuân của bà đã hòa vào chiến thắng chung của dân tộc. Cuộc đời bà Căn Hêng là minh chứng sống động cho vẻ đẹp của người phụ nữ cách mạng: bền bỉ, hy sinh và thủy chung với lý tưởng đến cùng.
Giữa hôm nay yên bình, nhắc lại câu chuyện của bà là để thế hệ trẻ La Lay, A Đeng – A Ngo hiểu rằng: độc lập, tự do được đánh đổi bằng những năm tháng hoa lửa thầm lặng như thế. Và tên bà – Căn Hêng – sẽ mãi là ngọn lửa ấm trong ký ức quê hương.



