Anh hùng Lực lượng vũ trang

Đàm Quang Trung: Cánh chim đại bàng giữa phong ba cách mạng

Tác giả: Nguyễn Thị Minh Trang

Cao Bằng22/08/2026Trường Đại học Hải Dương (Trường Đại học Hải Dương)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
Đàm Quang Trung: Cánh chim đại bàng giữa phong ba cách mạng

Thượng tướng Đàm Quang Trung, tên thật là Đàm Ngọc Lưu, sinh ngày 12/9/1921 tại bản Nà Nghiềng, xã Sóc Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Ông là người con út trong một gia đình dân tộc Tày giàu truyền thống cách mạng có 7 anh chị em. Chịu ảnh hưởng sâu sắc từ hai người anh ruột là Đàm Văn Lý và Đàm Minh Viễn, người thiếu niên Đàm Ngọc Lưu đã sớm nhen nhóm lòng yêu nước nồng nàn và ý chí căm thù thực dân xâm lược. Năm 1937, khi mới 16 tuổi, ông đã bắt đầu dấn thân vào các hoạt động cách mạng tại quê nhà và vinh dự được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương vào tháng 2/1939.

Chặng đường cách mạng của ông sớm gặp thử thách cam go khi vào tháng 5/1940, ông bị thực dân Pháp bắt giam và quản thúc. Thế nhưng, ngọn lửa kiên trung trong người chiến sĩ trẻ không bao giờ tắt. Tháng 3/1941, sau khi thoát khỏi sự quản thúc, ông được tổ chức cử sang Tĩnh Tây (Trung Quốc) hoạt động và sau đó được lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tin tưởng cử đi học tại Trường quân sự Hoàng Phố.

Tháng 7/1944, ông trở về nước với bí danh mới: Đàm Quang Trung. Trải qua những ngày tháng huấn luyện du kích gian khổ nơi biên ải, ông sáp nhập vào Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, đảm nhiệm vai trò Trung đội trưởng, rồi chỉ huy Đội vệ binh bảo vệ Trung ương Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh tại Tân Trào. Tháng 7/1945, ông được giao trọng trách làm Đại đội trưởng Đại đội hỗn hợp Việt - Mỹ, phối hợp cùng đội Con Nai của OSS huấn luyện quân sự và sử dụng vũ khí.

Trong những ngày mùa thu tháng Tám lịch sử, Đàm Quang Trung chỉ huy một cánh quân tiến về giải phóng Thái Nguyên và hướng về Hà Nội. Vào ngày 2/9/1945, tại quảng trường Ba Đình, ông vinh dự đảm nhiệm vai trò chỉ huy cuộc duyệt binh lịch sử, bảo vệ lễ đài nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Khi thực dân Pháp quay lại xâm lược, tiếng súng kháng chiến bùng nổ ở Nam Bộ. Để chi viện cho chiến trường phía Nam, Đàm Quang Trung lên đường với cương vị Chi đội trưởng Chi đội 4 Nam tiến – đơn vị tinh nhuệ mà đồng bào thời bấy giờ vẫn trìu mến gọi là "Chi đội Đàm Quang Trung". Sau đó, ông liên tục được điều động giữ các vị trí chỉ huy then chốt: từ Khu trưởng Đặc khu Hà Nội, Chỉ huy trưởng Mặt trận Quảng Nam - Đà Nẵng, đến Phó Tư lệnh kiêm Trung đoàn trưởng chủ lực của Liên khu V.

Tháng 10/1950, ông ra Bắc giữ chức Đại đoàn phó Đại đoàn 312. Trên cương vị này, ông đã chỉ huy đơn vị lập nên những chiến công lẫy lừng trong chiến dịch Tây Bắc và đặc biệt là trong Chiến dịch Điện Biên Phủ. Đại đoàn 312 dưới sự lãnh đạo của ông đã nổ súng mở màn tiêu diệt cứ điểm Him Lam và cuối cùng thọc sâu, bắt sống tướng De Castries cùng toàn bộ bộ chỉ huy tập đoàn cứ điểm vào ngày 7/5/1954. Trong đại lễ duyệt binh chiến thắng tại Mường Phăng ngày 13/5/1954, ông vinh dự thay mặt các đơn vị lập công nhận lá cờ “Quyết chiến, quyết thắng” từ tay Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Trải qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, dấu chân của vị tướng tài ba in đậm trên khắp các chiến trường quyết liệt nhất, từ Mặt trận B5 (Quảng Trị), chỉ huy tập kích Thành cổ Quảng Trị Tết Mậu Thân 1968, đến cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 4. Ông lần lượt được thăng quân hàm Thiếu tướng (1974) và Trung tướng (1980).

Đặc biệt, năm 1979, trên cương vị Tư lệnh kiêm Chính ủy Quân khu 1, trước cuộc tấn công quy mô lớn của 18 sư đoàn bộ binh và 6 trung đoàn xe tăng địch ở biên giới phía Bắc, Trung tướng Đàm Quang Trung đã mưu trí chỉ huy lực lượng tại chỗ đánh trả kiên cường, gây thiệt hại nặng nề cho đối phương, bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc. Với những cống hiến đặc biệt xuất sắc, ông được phong quân hàm Thượng tướng vào năm 1984.

Không chỉ là một quân nhân kiệt xuất trên sa trường, Thượng tướng Đàm Quang Trung còn là một chính khách uy tín, tận tụy vì nước vì dân. Ông từng giữ chức Phó Chủ tịch Hội đồng Nhà nước kiêm Chủ tịch Hội đồng Dân tộc (1987-1992), là Ủy viên Trung ương Đảng nhiều khóa và là Đại biểu Quốc hội từ khóa IV đến khóa VIII.

Ngày 3/3/1995, vị tướng huyền thoại của núi rừng Việt Bắc thanh thản trút hơi thở cuối cùng tại Hà Nội. Cuộc đời hoạt động cách mạng oanh liệt của ông đã trở thành một biểu tượng kiêu hãnh, được nhân dân vinh danh qua những con đường mang tên Đàm Quang Trung tại Hà Nội, Cao Bằng và ngôi trường THPT thân thương ngay trên mảnh đất Hà Quảng quê nhà.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn