DÂN CÔNG HỎA TUYẾN ĐIỆN BIÊN PHỦ
Những con người âm thầm vận chuyển lương thực, đạn dược
DÂN CÔNG HỎA TUYẾN ĐIỆN BIÊN PHỦ
Những con người âm thầm vận chuyển lương thực, đạn dược
NHÂN VẬT LỊCH SỬ
Dân công hỏa tuyến – những người dân từ nhiều địa phương tham gia phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ.
THỜI KỲ LỊCH SỬ
1954 – Chiến dịch Điện Biên Phủ, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.
PHẦN 1. TỪ NHỮNG LÀNG QUÊ ĐẾN ĐIỆN BIÊN
Đầu năm 1954.
Tin chiến dịch lớn sắp diễn ra lan về những làng quê.
Từ Thanh Hóa, Phú Thọ, Liên khu III, Liên khu IV, Việt Bắc và nhiều địa phương khác, những đoàn dân công lần lượt lên đường.
Có người là nông dân.
Có người là thanh niên.
Có người chưa từng đi xa khỏi quê nhà.
Họ không phải những người lính được trang bị súng đạn.
Nhưng họ nhận một nhiệm vụ không kém phần quan trọng:
Đưa lương thực, đạn dược và vật chất đến cho tiền tuyến.
Con đường lên Điện Biên dài hàng trăm cây số.
Đường núi hiểm trở.
Nhiều đoạn bị máy bay Pháp đánh phá.
Nhưng đoàn người vẫn đi.
Có người gánh trên vai.
Có người đẩy xe.
Có người dắt xe đạp thồ.
Có người vận chuyển bằng thuyền, bè mảng.
Họ rời quê nhà mà không biết chuyến đi sẽ kéo dài bao lâu.
Chỉ biết một điều:
Tiền tuyến đang cần họ.
Chú thích ảnh: Đoàn dân công phục vụ vận chuyển cho Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Nguồn ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
PHẦN 2. CON ĐƯỜNG DÀI HÀNG TRĂM CÂY SỐ
Điện Biên nằm giữa vùng núi Tây Bắc.
Từ hậu phương đến chiến trường có nơi cách xa 400–500km.
Đường đi lại hiểm trở, thời tiết khắc nghiệt, nhiều tuyến đường bị hư hỏng vì bom đạn.
Nhưng chiến trường không thể chờ.
Bộ đội cần gạo.
Cần đạn.
Cần thuốc.
Cần quần áo.
Cần tất cả những thứ cần thiết để tiếp tục chiến đấu.
Vì vậy, những đoàn dân công phải liên tục di chuyển.
Ngày đi.
Đêm đi.
Khi máy bay địch xuất hiện, họ tìm cách ẩn tránh.
Khi đường bị bom phá, họ cùng nhau sửa đường.
Cầu bị đánh sập, họ tìm cách vượt suối.
Đường bị đất đá vùi lấp, họ lại cuốc, lại đào.
Có những đoạn đường, dân công vừa vận chuyển hàng vừa phải tham gia giữ cho tuyến giao thông không bị đứt.
Bởi nếu con đường bị cắt:
Gạo không đến được.
Đạn không đến được.
Thương binh không thể đưa về.
Và tiền tuyến sẽ gặp nguy hiểm.
4
Chú thích ảnh: Dân công, thanh niên xung phong và lực lượng giao thông giữ các tuyến đường vận chuyển lên Điện Biên Phủ.
Nguồn ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
PHẦN 3. MỖI NGƯỜI MỘT GÁNH HÀNG
Một người dân công đi bộ thường mang theo hàng chục kilôgam hàng hóa.
Trong một hồi ức được Báo Quân đội nhân dân đăng lại, một đại đội dân công hỏa tuyến từ Phú Thọ lên mặt trận có khoảng 100 người, khoảng 70% là nữ.
Mỗi người gùi khoảng 10kg gạo trong chuyến đi cụ thể đó.
Những con số nghe có vẻ không lớn.
Nhưng hãy thử hình dung:
Một người.
Một chiếc gùi.
Một con đường núi.
Hàng chục cây số.
Rồi lại hàng chục cây số nữa.
Ngày này qua ngày khác.
Có lúc họ mang gạo.
Có lúc mang đạn.
Có lúc khiêng pháo.
Có lúc tải thương binh.
Tại những khu vực gần hỏa tuyến, công việc vận chuyển diễn ra ngay trong điều kiện bom đạn và giao thông hào.
Có những người dân công chưa từng cầm súng.
Nhưng họ hiểu:
Mỗi gánh gạo đến được tiền tuyến là thêm một bữa cơm cho người lính.
Mỗi hòm đạn đến được trận địa là thêm sức mạnh cho trận đánh.
Vì vậy, họ cứ đi.
5
Chú thích ảnh: Dân công vận chuyển lương thực và vật chất phục vụ tiền tuyến Điện Biên Phủ.
Nguồn tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia; Báo Quân đội nhân dân.
PHẦN 4. NHỮNG CHIẾC XE ĐẠP THỒ
Nếu chỉ dùng đôi vai con người thì không thể vận chuyển đủ khối lượng vật chất khổng lồ cho chiến dịch.
Và rồi những chiếc xe đạp xuất hiện.
Ban đầu, đó chỉ là những chiếc xe đạp bình thường.
Nhưng người dân đã cải tiến chúng.
Tháo bớt bộ phận không cần thiết.
Gia cố khung xe.
Buộc thêm giá đỡ.
Dùng một thanh tre làm tay lái phụ.
Rồi chất hàng lên.
Gạo.
Muối.
Đạn.
Thực phẩm.
Những chiếc xe đạp trở thành phương tiện vận tải đặc biệt.
Có những người dân công đã nâng dần mức hàng từ hơn 100kg lên trên 200kg.
Kỷ lục được Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ghi nhận là 320kg do dân công xe thồ Thanh Hóa Cao Văn Tỵ vận chuyển.
Những chiếc xe ấy không cần xăng.
Không cần động cơ.
Chỉ cần một con người phía sau.
Người dân công dắt xe.
Leo dốc.
Xuống dốc.
Qua những con đường lầy lội.
Khi mệt, họ dừng lại.
Rồi lại đi tiếp.
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia đánh giá xe đạp thồ đã trở thành một lực lượng vận tải quan trọng trong chiến dịch, chiếm hơn một phần ba tổng trọng lượng vận chuyển theo một báo cáo hậu cần được dẫn lại.
5
Chú thích ảnh: Đoàn xe đạp thồ của dân công tỉnh Thanh Hóa vận chuyển lương thực phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Nguồn ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
PHẦN 5. ĐƯỜNG BỊ BOM – NGƯỜI VẪN ĐI
Máy bay Pháp ngày càng tăng cường đánh phá các tuyến giao thông.
Đường lên Điện Biên trở thành một trong những khu vực nguy hiểm nhất.
Đèo Pha Đin.
Ngã ba Cò Nòi.
Lũng Lô.
Những địa danh ấy trở thành những điểm nóng của tuyến vận tải.
Bom rơi xuống.
Đường bị phá.
Nhưng sau khi máy bay rời đi, những người làm đường lại xuất hiện.
Cuốc.
Xẻng.
Xà beng.
Tre, gỗ.
Tất cả được huy động để khôi phục tuyến đường.
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia ghi nhận lực lượng dân công, thanh niên xung phong và cán bộ giao thông đã phải giữ các tuyến đường dài hàng trăm kilômét, trong đó có những trọng điểm như Pha Đin, Cò Nòi, cầu Tà Vài và tuyến Tuần Giáo – Điện Biên.
Có một điều rất đặc biệt:
Họ không chỉ vận chuyển trên con đường có sẵn.
Nhiều khi chính họ phải làm cho con đường tồn tại.
Bom phá.
Ta sửa.
Đường sạt.
Ta mở.
Cầu bị đánh.
Ta bắc lại.
Rồi đoàn dân công tiếp tục đi.
6
Chú thích ảnh: Dân công và thanh niên xung phong sửa chữa, bảo đảm các tuyến đường vận tải lên mặt trận Điện Biên Phủ.
Nguồn ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
PHẦN 6. KHÔNG CHỈ GẠO – CÒN CẢ ĐẠN DƯỢC VÀ THƯƠNG BINH
Người dân công đến Điện Biên không chỉ để mang gạo.
Họ vận chuyển rất nhiều loại vật chất khác.
Đạn dược.
Thực phẩm.
Thuốc men.
Quần áo.
Dụng cụ.
Và khi trở về, họ có thể mang theo những người bị thương.
Trong một trường hợp được Báo Quân đội nhân dân ghi lại, dân công hỏa tuyến đã hỗ trợ khiêng thương binh, vận chuyển vũ khí và lương thực cho đơn vị pháo binh.
Một người dân công có thể đi lên với một gánh gạo.
Trên đường về, gánh hàng có thể nhẹ hơn.
Nhưng đôi vai lại phải gánh một người lính bị thương.
Có những người lính chỉ còn đủ sức nằm trên cáng.
Người dân công khiêng họ qua những con đường rừng.
Qua suối.
Qua dốc.
Qua những nơi máy bay có thể xuất hiện bất cứ lúc nào.
Phía trước là bệnh xá.
Phía sau là chiến trường.
Và giữa hai nơi ấy là những người dân công âm thầm đưa người lính trở về.
5
Chú thích ảnh: Dân công tham gia vận chuyển thương binh và vật chất phục vụ Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Nguồn tham khảo: Báo Quân đội nhân dân; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
PHẦN 7. NHỮNG NGƯỜI PHỤ NỮ TRÊN TUYẾN LỬA
Trong những đoàn dân công có rất nhiều phụ nữ.
Họ gánh gạo.
Khiêng đạn.
Vận chuyển thương binh.
Sửa đường.
Làm kho.
Nấu ăn.
Phục vụ bộ đội.
Một hồi ức của người từng chiến đấu tại mặt trận cho biết một đại đội dân công hỏa tuyến từ Phú Thọ lên hỗ trợ đơn vị có khoảng 100 người, khoảng 70% là nữ.
Những người phụ nữ ấy rời quê nhà khi cuộc sống phía sau vẫn còn biết bao công việc.
Có người có chồng.
Có người có con.
Có người còn rất trẻ.
Nhưng khi tiền tuyến cần, họ lên đường.
Không phải ai cũng biết chiến đấu.
Nhưng họ biết cách gánh.
Biết cách khiêng.
Biết cách đi trong đêm.
Biết cách giữ hàng không bị ướt.
Biết cách tìm nơi trú ẩn khi máy bay địch xuất hiện.
Và quan trọng nhất:
Họ biết mình đang phục vụ những người lính ở phía trước.
4
Chú thích ảnh: Những nữ dân công tham gia phục vụ, vận chuyển và bảo đảm hậu cần cho chiến trường Điện Biên Phủ.
Nguồn tham khảo: Báo Quân đội nhân dân; Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
PHẦN 8. NHỮNG CON SỐ KHÔNG THỂ KỂ HẾT CÂU CHUYỆN
Sau chiến dịch, những con số được tổng kết.
261.453 lượt người đi dân công.
20.991 xe đạp thồ và xe thô sơ.
11.800 thuyền, mảng và ca nô.
500 ngựa thồ.
Hậu phương huy động hơn 25.000 tấn gạo cùng nhiều loại thực phẩm khác.
Về phía hậu cần quân đội, hơn 16.800 tấn lương thực, thực phẩm được bảo đảm cho chiến dịch, cùng khoảng 1.450 tấn vũ khí, đạn dược.
Những con số ấy cho thấy quy mô khổng lồ của công tác hậu cần.
Nhưng chúng vẫn chưa kể hết câu chuyện.
Bởi 261.453 lượt người không phải chỉ là một con số.
Đó là 261.453 lượt lên đường.
Là những đôi chân đi trên đường núi.
Là những bờ vai mang gạo.
Là những bàn tay đẩy xe.
Là những đêm ngủ bên vệ đường.
Là những lần chạy tìm chỗ tránh bom.
Là những bữa cơm vội vàng.
Và là những người đã góp một phần tuổi trẻ của mình cho Điện Biên.
Chú thích ảnh: Các lực lượng dân công và phương tiện thô sơ được huy động với quy mô lớn để bảo đảm hậu cần cho Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Nguồn ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
PHẦN 9. MỘT CUỐN SỔ CỦA NGƯỜI DÂN CÔNG
Bảo tàng Lịch sử Quốc gia hiện lưu giữ một hiện vật rất đặc biệt:
Cuốn sổ tay của dân công tỉnh Phú Thọ trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Cuốn sổ thuộc một thành viên của Tiểu đội xe thồ Phú Thọ II.
Người ghi sổ là Văn Chung, tổ trưởng một tiểu đội xe thồ.
Những dòng chữ trong sổ ghi lại rất nhiều chuyện tưởng như nhỏ bé:
Ngày nhận phụ tùng xe.
Ngày họp.
Nội quy.
Lương thực.
Thực phẩm.
Và đặc biệt là những lần nhận, vận chuyển gạo.
Có cả những ghi chép về việc gạo bị ướt, về kỷ luật hành quân và bảo vệ của công.
Đó chính là điều làm hiện vật này trở nên quý giá.
Bởi lịch sử không chỉ nằm trong những mệnh lệnh lớn.
Nó còn nằm trong một cuốn sổ nhỏ.
Trong đó có những dòng chữ của một người dân công đang sống giữa chiến dịch.
Có lẽ khi viết những dòng ấy, ông không nghĩ rằng hơn 70 năm sau, chúng sẽ trở thành tư liệu để thế hệ sau hiểu cuộc sống của những người vận tải năm xưa.
Nhưng lịch sử đã giữ lại.
Chú thích ảnh: Cuốn sổ tay của dân công thuộc Tiểu đội xe thồ Phú Thọ II, tham gia vận tải cho Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Nguồn ảnh: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
PHẦN 10. “TẤT CẢ CHO MẶT TRẬN”
Trong những ngày tháng ấy, một khẩu hiệu trở thành mệnh lệnh chung:
“Tất cả cho mặt trận, tất cả để chiến thắng.”
Người lính ở phía trước chiến đấu.
Người dân công ở phía sau vận chuyển.
Người công binh mở đường.
Người thanh niên xung phong giữ đường.
Người nông dân ở quê sản xuất lương thực.
Tất cả tạo thành một dòng người hướng về Điện Biên.
Ngày 13/3/1954, chiến dịch bắt đầu.
Những người dân công vẫn tiếp tục đưa hàng ra phía trước.
Ngày 7/5/1954, Điện Biên Phủ toàn thắng.
Nhưng để có được ngày ấy, hàng vạn chuyến vận chuyển đã phải hoàn thành trước đó.
Một bao gạo.
Một hòm đạn.
Một cáng thương binh.
Một chuyến xe đạp thồ.
Một chuyến bè mảng.
Mỗi thứ đều là một mắt xích.
Thiếu một mắt xích, tiền tuyến có thể gặp khó khăn.
Vì vậy, những người dân công tuy không trực tiếp đứng trong chiến hào vẫn là một phần không thể tách rời của chiến thắng.
Chú thích ảnh: Lực lượng dân công góp sức bảo đảm hậu cần cho tiền tuyến trong Chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954.
Nguồn tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.
LỜI KẾT
NHỮNG NGƯỜI KHÔNG CẦM SÚNG
Khi nhắc đến Điện Biên Phủ, người ta thường nhớ đến những trận đánh.
Nhớ những khẩu pháo.
Nhớ những chiến hào.
Nhớ những người lính xung phong giữa mưa bom, bão đạn.
Nhưng phía sau họ còn có một đội quân khác.
Đội quân dân công hỏa tuyến.
Họ không đứng trong hầm chỉ huy.
Không có quân hàm.
Không có những khẩu súng lớn.
Phần lớn chỉ có:
Một đôi quang gánh.
Một chiếc xe đạp.
Một chiếc gùi.
Một đôi chân.
Nhưng bằng những thứ giản dị ấy, họ đã đưa hàng vạn tấn vật chất về phía chiến trường.
Theo tổng kết được Bảo tàng Lịch sử Quốc gia dẫn lại, lực lượng dân công đã thực hiện khoảng 14 triệu ngày công trong chiến dịch.
14 triệu ngày công.
14 triệu ngày của những con người bình thường.
Có người chỉ tham gia một chuyến.
Có người đi nhiều chuyến.
Có người trở về quê.
Có người nằm lại trên những cung đường.
Nhưng tất cả đều có chung một hướng:
Đi về phía Điện Biên.
Và có lẽ, câu chuyện đẹp nhất về họ không nằm ở việc họ đã mang được bao nhiêu kilôgam gạo.
Không nằm ở việc họ đã đi bao nhiêu cây số.
Mà nằm ở một điều giản dị:
Khi tiền tuyến cần, họ đã có mặt.
Ngày hôm nay, những chiếc xe đạp thồ đã trở thành hiện vật trong bảo tàng.
Những tuyến đường Pha Đin, Lũng Lô, Cò Nòi trở thành những địa danh lịch sử.
Những cuốn sổ tay cũ trở thành chứng nhân.
Nhưng phía sau tất cả những thứ ấy là hình bóng của những con người từng bước đi trong đêm, từng gánh từng bao gạo, từng đẩy từng chiếc xe lên chiến trường.
Họ không trực tiếp tạo ra tiếng nổ của Điện Biên.
Nhưng chính họ đã góp phần đưa những viên đạn đến nơi cần tiếng súng.
Và khi lá cờ chiến thắng tung bay ngày 7/5/1954, trong chiến thắng ấy có cả những người lính ngoài mặt trận…
và những người dân công âm thầm ở phía sau.
4
Chú thích ảnh: Những hiện vật và địa danh hôm nay còn lưu giữ ký ức về lực lượng dân công, hậu cần và tuyến vận tải của Chiến dịch Điện Biên Phủ.
Nguồn tham khảo: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia.



