Dân công hỏa tuyến – những người anh hùng thầm lặng thời hoa lửa
Có những người, nếu không ai nói, thì chẳng ai nghĩ rằng họ là những người có công với đất nước. Những người ấy không trực tiếp cầm súng mà chiến đấu, mà họ chỉ lặng lẽ hỗ trợ các chiến sĩ trong thời kì kháng chiến. Ngày nay, khi đất nước đã hòa bình, họ chỉ là những người dân nông thôn bình dị, gắn liền với ruộng đồng cây trái. Chúng tôi đã tìm đến ấp Phú Hưởng, xã Đông Thái và gặp ông Lê Văn Thiện – một dân công hỏa tuyến, người từng tham gia hỗ trợ kháng chiến và chứng kiến những mất mát lớn lao do chiến tranh.
Năm 1973, nhiều người dân địa phương yêu nước, trong đó có anh Thiện khi ấy chỉ hơn 20 tuổi, nhận được nhiệm vụ ngăn cản tàu địch tấn công sâu vào vùng đất này, với phương pháp làm cản, tức đóng cây thành từng khoảng, sau đó chèn các bó sậy cùng với những loại cây khác để tạo thành một con đập. Mục đích của việc này nhằm thu hẹp lòng sông, ngăn cản tàu của địch và gây nên sự khó khăn khi quân địch muốn tiến sâu vào khu vực này.
Ngoài việc làm cản, ông còn hai lần thực hiện nhiệm vụ làm bẫy, đó chính là việc cắm chông vào các hố đã đào, chông ở đây chính là các cây tre được chẻ nhỏ và chuốt nhọn đầu. Sau khi chuốt nhọn, các đầu chông sẽ được cắm vào các hố, với mục đích khi quân địch tiến vào bằng đường bộ, quân ta sẽ phục kích trên các tuyến đường đã chuẩn bị bẫy, đồng thời có thể nổ súng khiến quân địch náo loạn khi bỏ chạy và sẽ ngã vào các hố, khiến chúng bị thương, gây tổn thất về lực lượng.
Ngoài những câu chuyện trong lúc tham gia làm cản, làm bẫy, chúng tôi còn được nghe những câu chuyện mang ký ức đau thương của chiến tranh mà ông đã từng trải qua. Trong đó có việc, ông từng chứng kiến một người quen phải bỏ lại một chân do mảnh bom của máy bay địch thả xuống: “Vào một ngày trời âm u, trên đầu ông và mọi người nghe thấy tiếng máy bay địch bay gầm rú, theo phản xạ miễn mà mình nghe thấy tiếng máy bay là phải ngay lập tức chạy vào hầm để tránh bom rơi, ông và nhiều người đã kịp vào hầm, nhưng có một anh không may vì chạy chậm nên đã dính phải mảnh bom vào chân, từ lúc ấy anh ta đã vĩnh viễn mất một chân của mình”.
Khi tôi hỏi ông rằng: “Khi làm những nhiệm vụ đó, có bao giờ ông cảm thấy sợ và nghĩ đến việc bị địch bắt không?”. Ông đã trả lời với chúng tôi bằng giọng trầm xuống: “Ông phải sợ gì, khi miền Nam vẫn còn nằm trong tay giặc chưa có được hòa bình, bản thân mình không thể ra trận cầm súng lên mà giết giặc, thì mình sẽ ở phía sau hậu cần và hỗ trợ những gì mình có thể làm”.
Ông chia sẻ với chúng tôi, hiện nay mình có đủ ăn đủ mặc, nhưng ở thời ông ăn thì không đủ ăn mà mặc cũng không đủ mặc, một chiếc áo rách tơi tả cũng chỉ dám lấy miếng vải khác mà vá vào, một bữa cơm chỉ gắn liền với rau đồng và những con cá bắt được ngoài sông hay ngoài ruộng, có ngày thì chỉ có rau ăn, có lúc chỉ có cơm nhưng vẫn phải cố mà ăn để có sức mà sống tiếp. Bây giờ cuộc sống chúng ta đã tốt hơn trước rất nhiều lần, mà nhờ vậy, chúng ta mới càng cảm nhận rõ vẻ đẹp và giá trị thiêng liêng của hòa bình, độc lập.
Sau khi tạm biệt ông và trên đường trở về, chiếc xe chạy trên con đường quê, ven con sông gió thổi nhè nhẹ, trong lòng tôi vẫn mãi còn một cảm giác khó tả. “Hòa bình” hai từ ấy cứ lặp đi lặp lại trong đầu tôi, bởi hòa bình không tự nhiên mà có, mà phải đánh đổi biết bao máu xương của ông cha. Thế hệ chúng tôi chỉ có thể cảm nhận được sự khó khăn qua lời kể, nhưng thực chất nó còn khó khăn gấp hàng trăm thậm chí hàng vạn lần.


