Khác

Đàn Nam Giao triều Nguyễn – Nơi hội tụ khí thiêng Trời Đất

Đàn Nam Giao là công trình kiến trúc cung đình thiết yếu của các triều đại phong kiến Việt Nam. Đây là nơi triều đình tổ chức lễ tế Nam Giao (còn gọi là lễ tế Giao) để tế cáo Trời - Đất cầu quốc thái dân an, đất nước thái bình thịnh trị, vương triều trường tồn, mưa thuận gió hòa, mùa màng tốt tươi. Theo quan niệm xưa, vua là “Thiên tử", tuân theo mệnh Trời mà cai trị dân chúng nên chỉ có vua mới được quyền cúng tế Trời - Đất nhằm khẳng định vương quyền và tính chính thống của vương triều. Cũng v

Quảng Trị20/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đàn Nam Giao triều Nguyễn nằm trong khuôn viên hình chữ nhật có diện tích lên tới hơn 100.000 m2. Cấu trúc và màu sắc của đàn không những thể hiện quan niệm “Trời tròn Đất vuông” mà còn biểu hiện cho sự hợp nhất giữa Trời, Đất và Người. Theo đó, đàn cao gần 5m, chia thành 3 tầng. Cả ba tầng đàn đều mở cửa, xây thành bậc ra 4 hướng Đông, Tây, Nam, Bắc:

Tầng cao nhất đắp hình tròn, lắp lan can quét vôi xanh, tượng trưng cho Trời, gọi là Viên đàn. Nền Viên đàn chôn sẵn 28 bệ đá khoét lỗ để dựng Thanh ốc, còn gọi là Thiên Khung (nhà tạm hình nón lợp vải xanh vào dịp tế lễ, Thiên Khung có nghĩa là vòm trời cao). Đây là nơi hợp tế Trời - Đất và phối tế linh vị Thái tổ Gia Dụ Hoàng đế Nguyễn Hoàng - người dựng cơ nghiệp nhà Nguyễn cùng các tiên đế đương triều là Thế tổ Cao Hoàng đế Gia Long, Thánh tổ Nhân Hoàng đế Minh Mệnh, Hiến tổ Chương Hoàng đế Thiệu Trị.

Tầng giữa hình vuông, lắp lan can quét màu vàng, tượng trưng cho Đất, gọi là Phương đàn. Nền đàn về phía Nam đặt sẵn 4 bệ đá khoét lỗ để dựng Hoàng ốc (nhà tạm hình vuông lợp vải vàng khi tế lễ). Phương đàn là nơi đặt án thờ và tế Mặt Trời, Mặt Trăng, Tinh Tú và các vị thần Gió, Mây, Mưa, Sấm, Núi, Biển, Đầm, Sông, Cồn, Gò, Bờ, Bãi, Năm, Tháng và bách thần trong cả nước.

Tầng dưới cùng cũng hình vuông, quét vôi đỏ, tượng trưng cho Người. Vào dịp tế, đây là nơi dành cho các đội văn sinh, võ sinh múa Bát Dật. Văn sinh tay trái cầm sáo, tay phải cầm cờ vũ; võ sinh tay trái cầm mộc, tay phải cầm búa. Mỗi đội 64 người, sắp thành 8 hàng, mỗi hàng 8 người đứng trên nền đàn phía nam, từ đông, tây hướng mặt vào nhau vừa múa vừa hát. Cũng trên mặt bằng tầng này, về phía đông nam đặt sở Phần Sài (nơi chất củi đốt đồ cúng tế cho cháy hết bốc khói lên cao để tế Trời); về phía tây bắc đặt sở Ế Khảm (nơi đào lỗ chôn đồ cúng tế xuống đất để tế Đất).

Bên ngoài khuôn viên đàn, nhà Nguyễn còn cho xây dựng các công trình phục vụ tế Giao. Phía tây nam là Trai Cung (nơi vua trai giới thanh tịnh trước khi tế Giao). Ở phía đông bắc là Thần Trù (nhà bếp làm cỗ tế), sở Tể Sinh (nơi giết mổ các con vật cúng tế) và Thần Khố (nhà kho cất giữ đồ tế). Ngoài ra còn có Quan Cư (nhà dành cho các quan tạm trú), Khoản Tiếp (nhà đón khách).

Khuôn viên đàn vốn được xây tường rào đá bao quanh, có mở cổng ra bốn phía Đông, Tây, Nam, Bắc. Chắn trước mỗi cổng là một bức bình phong lớn. Xung quanh đàn, cả trong lẫn ngoài khuôn viên trồng kín một rừng thông, loài cây tượng trưng cho người quân tử. Truyền thống trồng thông tại đây khởi nguồn từ thời Vua Gia Long. Các vua kế vị đều noi gương thực hiện. Thời gian đầu, chỉ vua và các vương tôn công tử mới được quyền trồng và chăm sóc thông. Nhưng đến đời vua Tự Đức, quyền này được nới rộng tới các quan văn tứ phẩm và quan võ tam phẩm, nên rừng thông Nam Giao ngày càng dày kín và mở rộng hơn.

Cùng với việc dựng đàn tế, vua Gia Long cũng định ra điển lễ tế Giao, nhưng còn sơ lược. Đến năm Minh Mệnh thứ 10 (1829), nghi thức, nghi chú tế Giao mới chính thức được chuẩn định và biên chép vào Hội điển để đời sau y theo. Việc chế tác, bày biện, sắp đặt tế khí, lễ phẩm, lễ nhạc… đều qua kê cứu, tham khảo các sách “Chu Lễ”, “Lễ Ký” đời cổ mà bắt chước làm theo để “giữ cho đủ điển lễ lớn của triều thịnh trị”1. Hai đồ tế khí quan trọng trong lễ tế Giao là “thương bích” (phiến ngọc tròn màu xanh có lỗ ở giữa, tượng trưng cho Trời) dùng để tế Trời và “hoàng tông” (ống ngọc màu vàng trong tròn ngoài vuông, tượng trưng cho Đất) dùng để tế Đất cũng được Vua cho chế tác trong năm này2. Hàng năm, đến ngày tế thì bày ra, tế xong lại cất đi. Tiếp đó, vào năm Minh Mệnh thứ 12 (1831), Vua lại cho chế cổn miện (áo long cổn và mũ bình thiên, lễ phục vua mặc khi tế Giao) theo kiểu mẫu của đời Hiên Viên Hoàng Đế3 bởi “…thể thức ấy có tua rủ coi trang nghiêm, có ngọc bội lẻng kẻng, đội mũ mặc áo vào, Trẫm thấy rất nghiêm kính ung dung càng tỏ rõ lễ độ, mới biết thâm ý của cổ nhân chế ra”4. Chế độ cổn miện tế Giao bắt đầu được thực thi từ đó.

Khởi công vào ngày 25 tháng 3 năm 1806, ắt đến cuối năm này, việc xây dựng đàn Nam Giao đã hoàn tất bởi vào ngày 27 tháng 3 năm 1807, lễ tế Giao đầu tiên tại đây đã được vua Gia Long cử hành. Kể từ đó cho đến năm 1885, đều đặn hàng năm nhà Nguyễn đều tổ chức lễ tế Giao vào trung tuần tháng hai hoặc tháng ba âm lịch. Khoảng những năm 1886 - 1890, việc tế Giao bị tạm dừng do sự kiện Vua Hàm Nghi rút lên căn cứ Tân Sở tổ chức Phong trào Cần Vương chống thực dân Pháp. Từ đời vua Thành Thái (1890 - 1907), do điều kiện kinh tế eo hẹp nên đổi lại ba năm mới tổ chức một lần.

Trước kỳ tế, Khâm Thiên Giám dự chọn ba ngày tốt dâng trình để bói chọn lấy ngày tốt nhất. Ngày được khuyên đỏ là quẻ thứ nhất, chấm đỏ là quẻ thứ hai, không được khuyên chấm là quẻ thứ ba. Dùng hai đồng tiền bạc, lấy những ngày đã chọn để bói, nếu một đồng sấp một đồng ngửa là tốt. Đầu tiên gieo quẻ thứ nhất, nếu chưa được thì gieo lại quẻ thứ hai, nếu lại chưa được thì gieo nốt quẻ thứ ba. Nếu 3 quẻ đều không tốt thì dùng ngay quẻ thứ nhất. Lễ phẩm, lễ nhạc… cũng được sửa sang, chuẩn bị vô cùng công phu, kỹ lưỡng. Con sinh (các con vật tế gồm trâu non, nghé đực, dê, lợn) được chăn nuôi riêng trong ba tháng bằng thức ăn tinh sạch, cấp lọng đỏ và thừng gai đỏ cho dân phu Thừa Thiên che mưa nắng và dẫn đi tắm rửa hàng ngày.

Trước ngày đại lễ, vua ngự giá từ Đại Nội đến Trai Cung để trai giới, có đoàn rước ngự đạo theo hộ giá. Lúc vua khởi hành và hồi cung đều bắn 9 tiếng súng lệnh. Dọc đường vua ngự giá và xung quanh Giao đàn trang hoàng rợp trời cờ đỏ, cờ xanh, cờ tứ sắc, ngũ sắc. Các hạng cờ lớn nhỏ tung bay theo gió càng làm cho không khí ngày đại lễ càng thêm tưng bừng, rộn rã. Hai bên đường san sát các bàn thờ vọng do các làng xã mấy huyện gần kinh đô đặt dựng. Vua ngự giá tới đâu, quan dân quỳ lạy tới đó. Đến giờ tế (thường diễn ra lúc nửa đêm về sáng), vua mặc lễ phục từ Trai Cung ra Giao Đàn tế lễ. Các nghi lễ: “phần sài” (đốt củi thui trâu), “thượng hương” (dâng hương), “nghênh Thần” (đón Thần), “điện ngọc bạch” (dâng ngọc lụa), “tiến trở” (dâng con sinh), “sơ hiến” (dâng rượu lần thứ nhất), “á hiến” (dâng rượu lần thứ hai), “chung hiến” (dâng rượu lần cuối), “ẩm phúc thụ tộ” (chủ tế uống rượu và ăn thịt tế), “triệt soạn” (cất dọn đồ tế), “tống Thần” (tiễn Thần), “phủng nghệ liệu sở” (đốt văn tế) lần lượt diễn ra trang nghiêm, kính cẩn. Tương ứng với mỗi nghi lễ, phường nhạc và đội ca công sẽ tấu hát một khúc nhạc riêng. “Đương đêm thanh vắng, hơn một trăm con người đồng thanh hát lên, nghe rất là cảm động, tưởng thấu đến tận trời cao đất thẳm, mà xa đưa tới đấng Thiên Hoàng Địa Kỳ cái tấm lòng thành của cả một dân một nước”5. Tế xong, vua ngự giá về Trai Cung. Lúc này, phường nhạc tấu khúc “Khánh thành”. “Nghe đâu khúc này là bọn đồng ấu hát, nên nghe hay lắm. Tiếng thanh thanh, xa xa, văng vẳng, như trên cung giăng hát khúc Quảng Hàn vậy. Rõ ra cái giọng vui vẻ tơi bời, mừng rằng đại lễ đã thành…”6. Có thể nói, lễ tế Nam Giao là đại lễ quy mô nhất, tốn nhiều công của nhất trong số các lễ hội cung đình triều Nguyễn.

Ngày nay, đàn Nam Giao là một di tích lịch sử quan trọng trong Quần thể di tích cố đô Huế, đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa thế giới năm 1993..Do những ý nghĩa lịch sử văn hóa quan trọng cùng các giá trị nhân văn nổi bật mà lễ hội cung đình này đã được nghiên cứu và phục dựng từng phần kể từ Festival Huế 2004. Đây cũng là dịp để Huế quảng bá sâu rộng hơn nữa những tinh hoa văn hóa truyền thống của vùng đất Cố đô.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn