ĐẶNG BÁ HÁT – NGƯỜI THỢ MỎ TRONG NHỮNG NĂM THÁNG HOA LỬA (1)
ĐẶNG BÁ HÁT – NGƯỜI THỢ MỎ GIỮA LỬA ĐẠN

Ở vùng than Quảng Ninh, giữa tiếng sóng Bãi Cháy và nhịp máy không ngơi của những bến cảng, có một cái tên đã đi vào ký ức của bao thế hệ thợ mỏ, đi vào con đường, khu tưởng niệm và cả trong lời ca da diết của nhạc sĩ Bùi Hội. Đó là Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân, liệt sĩ Đặng Bá Hát – người thợ mỏ đã sống và ngã xuống giữa những năm tháng hoa lửa của dân tộc.
Đặng Bá Hát sinh năm 1936, tại thôn Đồng Tái, xã Thống Kênh, huyện Gia Lộc, tỉnh Hải Dương. Tuổi trẻ của ông gắn với chiến tranh. Là người lính trở về từ cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, khi đất nước bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, ông lại khoác lên mình một “mặt trận” mới – mặt trận lao động và chiến đấu của người thợ mỏ Hòn Gai.
Ông về công tác tại Phân xưởng Đống – Bến của Xí nghiệp Than Hòn Gai (nay là Công ty Tuyển than Hòn Gai). Những ngày ấy, vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu là mệnh lệnh không lời. Xí nghiệp nhanh chóng thành lập lực lượng tự vệ từ chính những công nhân đang ngày đêm bên máy sàng, hầm than, đầu tàu hỏa. Trong đội ngũ ấy, Đặng Bá Hát nổi lên như một người chỉ huy bản lĩnh, kỷ luật và gương mẫu.
Ngày 5/8/1964, bầu trời Hòn Gai rung chuyển bởi tiếng máy bay Mỹ. Đế quốc Mỹ chính thức leo thang chiến tranh, đưa bom đạn ra miền Bắc. Trên bến Hòn Gai, giữa khói lửa mịt mù, những người thợ mỏ – chiến sĩ tự vệ đã cùng bộ đội phòng không, hải quân tạo nên một lưới lửa kiên cường. Trận đánh lịch sử ấy đã bắn rơi 3 máy bay Mỹ, bắt sống phi công An-va-rét. Sau trận đánh, Đặng Bá Hát và 27 chiến sĩ tự vệ được trao tặng Huy hiệu 5/8 – phần thưởng của lòng dũng cảm và tinh thần thép.
Mười hai năm gắn bó với Xí nghiệp, từ một công nhân bình thường, Đặng Bá Hát xây dựng tổ sản xuất từ yếu kém trở thành Tổ lao động xã hội chủ nghĩa nhiều năm liền. Ông được tín nhiệm giữ cương vị Phó Quản đốc Phân xưởng – một người thợ mỏ vừa giỏi sản xuất, vừa vững vàng trận mạc.
Năm 1967, Đại đội pháo phòng không 37 ly thuộc Tiểu đoàn Tự vệ bến phà Hòn Gai được thành lập. Đặng Bá Hát được giao trọng trách Đại đội trưởng. Ông đem theo tất cả kinh nghiệm trận mạc của người lính năm xưa, hun đúc nên một đơn vị tự vệ bán vũ trang “tay búa tay súng”, luyện tập nghiêm túc, sẵn sàng chiến đấu trong mọi tình huống.
Chỉ trong khoảng thời gian từ tháng 5 đến tháng 10 năm 1972, đại đội của ông đã đánh 37 trận, bắn rơi một máy bay F4, một máy bay F8, tháo gỡ 104 quả bom nổ chậm, phá hủy hơn 2.500 quả bom các loại – những con số được viết nên bằng mồ hôi, trí tuệ và cả máu.
Chiều ngày 12/7/1972, bến phà Bãi Cháy lại chìm trong tiếng còi báo động. Máy bay Mỹ ập đến đánh phá dữ dội. Đại đội trưởng Đặng Bá Hát đứng bên tháp pháo, mắt không rời mục tiêu, tay phất cao cờ lệnh chỉ huy. Địch dùng thủ đoạn nghi binh, cho máy bay bay thấp đánh lén. Một quả bom rơi trúng trận địa.
Mảnh bom xuyên thủng bụng ông. Máu thấm đỏ áo. Nhưng người đại đội trưởng vẫn không ngã xuống. Một tay ghì chặt vết thương, tay kia ông vẫn phất cờ, giọng dứt khoát vang lên trong khói lửa: “Bắn!”
Đó là mệnh lệnh cuối cùng. Đặng Bá Hát anh dũng hy sinh ngay bên tháp pháo – nơi ông đã đứng suốt những năm tháng bảo vệ bầu trời vùng than.
Lá cờ lệnh trong trận đánh lịch sử ngày 12/7/1972 sau đó được sưu tầm, gìn giữ và trưng bày tại Bảo tàng Quân khu 3 – một kỷ vật thiêng liêng, nhắc nhở các thế hệ hôm nay và mai sau về sự hy sinh quên mình của người thợ mỏ – chiến sĩ.
Đầu năm 1973, Đại đội tự vệ pháo 37 ly của Xí nghiệp Bến Hòn Gai vinh dự được Chủ tịch nước Tôn Đức Thắng trao tặng lẵng hoa ngay tại trận địa. Xí nghiệp được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Năm 1995, liệt sĩ Đặng Bá Hát được truy tặng danh hiệu cao quý ấy. Trận địa pháo phòng không mang tên ông cũng được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia.
Trong ký ức của bà Đặng Thị Mát, người vợ tảo tần, ông là người chồng hết lòng vì công việc, ngày đêm cùng đồng đội luyện tập, hiếm khi về nhà. Nhưng mỗi lần về, ông lại quấn quýt bên vợ con. Ông nghiêm khắc đến mức không cho phép vợ con nhặt dù chỉ một hòn than của công ty về sưởi ấm – bởi với ông, kỷ luật và danh dự của người thợ mỏ là thiêng liêng.
Với các con, ông là người cha yêu thương nhưng nghiêm khắc. “Mỗi lời bố nói ra như quân lệnh”, chị Đặng Thị Mai nhớ lại. Còn chị Đặng Thị Huệ, khi cha hy sinh chị còn quá nhỏ để có nhiều ký ức. Nhưng qua lời kể của mẹ, của đồng đội, hình ảnh người cha anh hùng đã trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc, giúp chị và các anh chị em không ngừng vươn lên trong cuộc sống.
Giữa nhịp sống hôm nay, khi vùng than đã đổi thay, cái tên Đặng Bá Hát vẫn lặng lẽ sống cùng đất, cùng người Quảng Ninh – như ngọn lửa không tắt của một thời hoa lửa, soi sáng cho những thế hệ thợ mỏ tiếp bước đi lên.


