Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập của 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia (1930-1945)
Tháng 9 - 1858, liên quân Pháp - Tây Ban Nha nổ súng tấn công Đà Nẵng, mở đầu cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam. Sau khi chiếm được toàn bộ lãnh thổ Việt Nam và Campuchia, năm 1887, thực dân Pháp lập ra Liên bang Đông Dương thuộc Pháp, dưới sự cai trị của một viên toàn quyền. Thực dân Pháp tiếp tục sáp nhập Lào (năm 1893), Quảng Châu Loan (1900) vào Liên bang Đông Dương. Như vậy, từ cuối thế kỷ XIX, 3 nước Đông Dương có chung kẻ thù là thực dân Pháp xâm lược.
Để chống lại kẻ thù xâm lược, nhân dân 3 nước Việt Nam, Campuchia và Lào đã vùng lên đấu tranh mạnh mẽ, đặc biệt kể từ khi Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung tháng 10-1930 của Đảng cho rằng Đảng Cộng sản Đông Dương lãnh đạo phong trào cách mạng của cả 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia; vì 3 nước Đông Dương “tuy tiếng nói, phong tục và nòi giống khác nhau, nhưng về mặt chánh trị và kinh tế thì cần phải liên lạc mật thiết với nhau”. Nghị quyết xác định: “Nhiệm vụ chánh của Đảng là lãnh đạo cho công nông và quần chúng lao khổ ra tranh đấu để cướp chánh quyền”; trong bối cảnh hiện tại của Đông Dương lúc này, Nghị quyết chỉ rõ: “Chiếu theo tình hình hiện tại ở Đ.D (Đông Dương – TG) thì nhiệm vụ của Đảng là phải khoách trương phong trào tranh đấu cho đều khắp xứ Đ.D (Đông Dương – TG) phải làm cho phong trào tranh đấu ở những chỗ đã có được thêm sâu thêm mạnh và phải hết sức làm cho phong trào c.m (cách mạng – TG) lan rộng ra những chỗ chưa có”.
Để lãnh đạo cuộc đấu tranh chống thực dân Pháp, Đảng Cộng sản Đông Dương chủ trương thành lập hệ thống tổ chức đảng ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Ai Lao và Cao Miên. Căn cứ vào tình hình cụ thể, các cấp ủy đảng đã đẩy mạnh việc tuyên truyền, xây dựng cơ cở của Đảng, cơ sở cách mạng và vận động quần chúng đứng lên đấu tranh mạnh mẽ chống lại ách thống trị của thực dân Pháp xâm lược.
Nhận định về tinh thần đấu tranh chống Pháp của nhân dân 3 nước Đông Dương, Đảng chỉ rõ: “Phong trào dân tộc ở Đông Dương từ khi bị đế quốc Pháp cai trị đã trải qua nhiều đoạn đấu tranh vẻ vang. Khi ôn hòa, khi đổ máu, tất cả các dân tộc Đông Dương, từ Việt Nam, Miên, Lào đến các dân tộc thiểu số Thổ, Thượng, v.v… đã nhiều lần nổi dậy chống chính sách cướp bóc tàn ác và ách thống trị nặng nề của đế quốc”4. Khi Chiến tranh thế giới II bùng nổ, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng tháng 11 - 1939, xác định nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ chủ yếu nhất. Hội nghị đề ra chủ trương cho cách mạng Đông Dương lúc này là phải “đứng trên lập trường giải phóng dân tộc, lấy quyền lợi dân tộc làm tối cao, tất cả mọi vấn đề của cuộc cách mạng, cả vấn đề điền địa cũng phải nhằm vào mục đích ấy mà giải quyết”.
Về quan hệ giữa nhân dân các dân tộc Đông Dương, Hội nghị khẳng định: “Không một dân tộc nào có thể giải phóng riêng rẽ vì Đông Dương ở dưới quyền thống trị duy nhất của đế quốc Pháp … Không có thể một bộ phận nào thoát khỏi nền thống trị ấy mà chẳng liên quan đến cả toàn thể nền thống trị của đế quốc Pháp”. Tuy vậy, Việt Nam, Lào và Campuchia là 3 quốc gia riêng biệt, nên Đảng xác định: “Sự liên hiệp các dân tộc Đông Dương không nhất thiết bắt buộc các dân tộc phải thành lập một quốc gia duy nhất vì các dân tộc như Việt Nam, Miên, Lào xưa nay vẫn có sự độc lập. Mỗi dân tộc có quyền giải quyết vận mệnh theo ý muốn của mình”. Để trực tiếp lãnh đạo phong trào chống đế quốc, Hội nghị đề ra nhiệm vụ: “Phải chú ý gây dựng cơ sở Miên, Lào và tổ chức những đảng bộ tự trị của các dân tộc thiểu số”.
Ngày 28-1-1941, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc về nước trực tiếp lãnh đạo cuộc đấu tranh giành độc lập của nhân dân Đông Dương. Tháng 5-1941, Người triệu tập Hội nghị Trung ương lần thứ Tám. Tại Hội nghị, Đảng đã xác định “Pháp - Nhật ngày nay không phải chỉ là kẻ thù của công nông, mà là kẻ thù của cả dân tộc Đông Dương. Trong lúc này, khẩu hiệu của Đảng ta là trước hết phải làm sao giải phóng cho được các dân tộc Đông Dương ra khỏi ách của Pháp – Nhật”. Hội nghị nhấn mạnh: “Trong lúc này, quyền lợi của bộ phận, của giai cấp đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập tự do cho toàn dân tộc thì chẳng những quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được”.
Để tập hợp nhân dân mỗi nước đứng lên chống Pháp - Nhật giành độc lập dân tộc, Đảng Cộng sản Đông Dương coi việc thành lập Mặt trận Dân tộc thống nhất có ý nghĩa rất quan trọng. Theo đề nghị của Nguyễn Ái Quốc, Hội nghị quyết định thành lập ở Việt Nam tổ chức “Việt Nam độc lập đồng minh” (gọi tắt là Việt Minh). Đối với Lào và Cao Miên, Hội nghị chủ trương giúp đỡ nhân dân hai nước thành lập “Ai Lao độc lập đồng minh” và “Cao Miên độc lập đồng minh”. Trên cơ sở sự ra đời của mặt trận ở mỗi nước, sẽ tiến tới thành lập mặt trận chung của 3 nước Đông Dương là “Đông Dương độc lập đồng minh”.
Ngày 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương. Cũng đúng vào thời điểm đó, đã diễn ra Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng mở rộng họp tại Từ Sơn, Bắc Ninh. Ngày 12-3-1945) Ban Thường vụ Trung ương ra Chỉ thị lịch sử: “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta”. Chỉ thị yêu cầu các cấp bộ đảng “thay đổi mọi hình thức tuyên truyền, cổ động, tổ chức và đấu tranh cho hợp với thời kỳ tiền khởi nghĩa; động viên mau chóng quần chúng nhân dân lên mặt trận cách mạng, tập dượt cho quần chúng mạnh dạn tiến lên tổng khởi nghĩa”. Chỉ thị yêu cầu các địa phương “Phát động cao trào kháng Nhật cứu nước mạnh mẽ, để làm tiền đề cho cuộc Tổng khởi nghĩa” và “sẵn sàng chuyển qua hình thức tổng khởi nghĩa một khi đã đủ điều kiện”.
Tháng 8 - 1945, chớp thời cơ Nhật Bản tuyên bố đầu hàng Đồng minh, Đảng Cộng sản Đông Dương đã lãnh đạo nhân dân 3 nước Việt Nam, Lào, Campuchia vùng lên khởi nghĩa giành chính quyền. Song do điều kiện mỗi nước, khởi nghĩa diễn ra và giành thắng lợi ở mức độ khác nhau.
Tại Việt Nam, trước tình hình chuyển biến mau lẹ, ngày 14-8-1945, Hội nghị toàn quốc của Đảng họp tại Tân Trào, Tuyên Quang xác định: “Cơ hội rất tốt cho ta giành quyền độc lập dân tộc đã tới”12. Hội nghị quyết định phát động toàn dân khởi nghĩa giành chính quyền trước khi quân đồng minh vào vào Đông Dương. Hội nghị quyết định thành lập Ủy ban Khởi nghĩa toàn quốc và truyền đi bản Quân lệnh số 1 ban bố lệnh khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước. Ngày 16-8-1945, tại Tân Trào (Tuyên Quang), Đại hội Quốc dân được tổ chức. Đại hội thông qua Mệnh lệnh khởi nghĩa của Tổng bộ Việt Minh, cử ra Ủy ban Dân tộc Giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Hưởng ứng lệnh Tổng khởi nghĩa và Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam khắp mọi miền đất nước đã đứng dậy khởi nghĩa thành công trên toàn quốc. Ngày 2-9-1945, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được thành lập.
Tại Lào, ngày 14-8, Xứ ủy Ai Lao thành lập Ban Chỉ đạo khởi nghĩa Viêng Chăn. Đến ngày 23-8, với sự phối hợp, giúp đỡ của cán bộ và người Việt ở Lào, cuộc khởi nghĩa Viêng Chăn giành thắng lợi. Cùng với khởi nghĩa Viêng Chăn, khởi nghĩa còn diễn ra thắng lợi tại một số tỉnh khác như: Thà Khẹc, Xavănnakhet,… Từ những thắng lợi đó, ngày 12-10-1945, Chính phủ Lào Issala được thành lập. Trong khi đó, ở Campuchia, do cơ sở đảng bị khủng bố và do chính quyền thân Nhật còn mạnh, nên cuộc tổng khởi nghĩa không thực hiện được.
Đánh giá về ý nghĩa của Cách mạng tháng Tám đối với Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Trước ngày Cách mạng tháng Tám, dân tộc ta đã phải trải qua gần một thế kỷ vô cùng tủi nhục. Trên địa đồ thế giới, tên nước ta đã bị xóa nhòa dưới bốn chữ “Đông Dương thuộc Pháp”. “Cách mạng tháng Tám đã lật đổ nền quân chủ mấy mươi thế kỷ, đã đánh tan xiềng xích thực dân gần 100 năm, đã đưa chính quyền lại cho nhân dân, đã xây nền tảng cho nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, độc lập, tự do, hạnh phúc. Đó là một cuộc thay đổi cực kỳ to lớn trong lịch sử của nước ta”.
Về ý nghĩa cuộc Cách mạng tháng Tám của Việt Nam đối với cách mạng thế giới và cách mạng 3 nước Đông Dương, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Cách mạng tháng Tám thắng lợi đã làm cho chúng ta trở nên một bộ phận trong đại gia đình dân chủ thế giới. Cách mạng tháng Tám có ảnh hưởng trực tiếp và rất to đến hai dân tộc bạn là Miên và Lào. Cách mạng tháng Tám thành công, nhân dân hai nước Miên, Lào cùng nổi lên chống đế quốc và đòi độc lập”.
Đánh giá ý nghĩa của cuộc Tổng khởi nghĩa ở Lào, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Nhân dân Cách mạng Lào Kaysone Phomvihane khẳng định: “Đây là thắng lợi đầu tiên của nhân dân ta trở lại làm chủ đất nước và vận mệnh của mình sau hơn một trăm năm sống dưới ách nô lệ và bị chia cắt. Thắng lợi đó đã mở đầu một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên mà nhân dân ta được huy động và tự giác tham gia vào cuộc chiến đấu sống còn với kẻ thù để cứu nhà, cứu nước”.
Thành công của nhân dân Việt Nam và nhân dân Lào trong cuộc Tổng khởi nghĩa giành chính quyền năm 1945 khẳng định đường lối chiến lược đúng đắn của Đảng, đường lối kết hợp nhuần nhuyễn giữa chủ nghĩa yêu nước và chủ nghĩa quốc tế vô sản, giữa tư tưởng của chủ nghĩa cộng sản với thực tiễn cách mạng ở 3 nước Đông Dương. Đường lối cách mạng đúng đắn này tiếp tục được Đảng Cộng sản Đông Dương và sau này là 3 Đảng của 3 nước Việt Nam, Lào và Campuchia tiếp tục phát huy trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và kháng chiến chống đế quốc Mỹ, đem lại nền hòa bình, độc lập trọn vẹn cho 3 nước vào mùa Xuân năm 1975.



