Đảng Cộng sản Việt Nam – kết tinh từ bản lĩnh của Chủ tịch Hồ Chí Minh
Tác giả: Nguyễn Thị Hải Yến
Người thành niên yêu nước Nguyễn Ái Quốc đã tìm đến ánh sáng của Chủ nghĩa Mác-Lênin như một bước ngoặt lịch sử trong hành trình cứu nước. Khi nhiều người còn đặt niềm tin vào cách mạng tư sản, Người đã nhận ra sự hạn chế của nó: vẫn duy trì áp bức giai cấp và áp bức dân tộc. Chính vì thế, Người lựa chọn Quốc tế III do V.I.Lenin sáng lập, bởi đây là tổ chức duy nhất hứa sẽ giúp đỡ các dân tộc thuộc địa. Tầm nhìn ấy thể hiện sự nhạy bén chính trị và bản lĩnh vượt trội của Nguyễn Ái Quốc.
Tháng 12 năm 1920, tại Đại hội Tours, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III, trở thành người cộng sản đầu tiên của dân tộc Việt Nam. Từ đó, Người tiếp nhận học thuyết về đảng cộng sản, nhận ra sự cần thiết phải thành lập một chính đảng vô sản ở Việt Nam để lãnh đạo phong trào giải phóng dân tộc. Đây là bước đi hoàn toàn mới mẻ so với các bậc tiền bối, mở ra tiền đề lý luận cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trong quá trình chuẩn bị, Nguyễn Ái Quốc không vội vàng thành lập Đảng ngay mà lập ra Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên năm 1925. Người hiểu rằng một chính đảng cộng sản chỉ có thể ra đời khi phong trào công nhân đạt trình độ tự giác, khi có đội ngũ cán bộ gắn bó với nhân dân và khi đã có cương lĩnh chính trị khoa học. Tác phẩm “Đường Kách mệnh” ra đời trong thời gian này, giống như “Làm gì?” của Lenin đối với cách mạng Nga, đã phác thảo con đường giải phóng dân tộc, chuẩn bị nền tảng tư tưởng cho sự thành lập Đảng.
Đến cuối năm 1929, ba tổ chức cộng sản cùng tồn tại trong nước, nguy cơ phân liệt đặt ra yêu cầu cấp bách phải hợp nhất. Với tư cách phái viên Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập hội nghị hợp nhất tại Hồng Kông mùa xuân năm 1930. Tại đây, bản lĩnh chính trị và tư duy sáng tạo của Người được thể hiện rõ nét.
Thứ nhất, Người quyết định thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam thay vì Đảng Cộng sản Đông Dương như chủ trương của Quốc tế Cộng sản, khẳng định quyền dân tộc tự quyết và sự cần thiết phải đặt đường lối cách mạng trong phạm vi từng dân tộc.
Thứ hai, Người chủ trương đoàn kết, yêu cầu các đại biểu “bỏ mọi thành kiến xung đột cũ, thành thật hợp tác để thống nhất các nhóm cộng sản Đông Dương”. Nhờ đó, Đảng ra đời bằng sự hợp nhất trọn vẹn, thay vì “thanh lọc” như chỉ dẫn của Quốc tế Cộng sản.
Thứ ba, Nguyễn Ái Quốc soạn thảo Cương lĩnh chính trị đầu tiên, xác định nhiệm vụ hàng đầu là chống đế quốc, giành độc lập dân tộc. Quan điểm này khác biệt với chủ trương đấu tranh giai cấp thuần túy của Quốc tế Cộng sản, nhưng lại phù hợp với hoàn cảnh Việt Nam – một xã hội thuộc địa. Người khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng, đồng thời nhấn mạnh tính dân tộc sâu sắc, mở rộng cơ sở xã hội và đại diện cho lợi ích toàn dân tộc.
Dù có lúc bị quy kết là “hữu khuynh” hay “cơ hội chủ nghĩa”, lịch sử đã chứng minh sự đúng đắn và tầm nhìn vượt trội của Hồ Chí Minh. Chính nhờ bản lĩnh ấy, Đảng Cộng sản Việt Nam đã ra đời năm 1930, mở ra một thời đại mới: thời đại độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.



