Đặng Đức Song - Người lính trung liên trên đỉnh Đồi Xanh và cuộc chiến không lui bước giữa thời bình
Trận phòng ngự huyền thoại trên cao điểm 781 năm ấy đã tôi luyện nên một Đặng Đức Song quả cảm, kiên cường trước làn sóng tiến công dồn dập của kẻ thù. 24 đợt xung phong của địch bị bẻ gãy nơi "tọa độ chết" Điện Biên Phủ không chỉ dệt nên vinh quang một thời hoa lửa, mà còn trở thành bệ phóng cho tinh thần phụng sự không ngơi nghỉ của người anh hùng khi trở về với cuộc sống đời thường.
Trong lòng Chiến dịch Điện Biên Phủ lừng lẫy năm châu, lịch sử đã ghi danh biết bao tấm gương chiến đấu quả cảm, sẵn sàng hy sinh thân mình vì lý tưởng độc lập cao đẹp của dân tộc. Những cốt cách kiên trung ấy không chỉ làm rạng danh hình tượng Bộ đội Cụ Hồ, mà còn hóa thành những ánh sao khuê soi đường cho lớp lớp thế hệ mai sau bước tiếp. Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân Đặng Đức Song chính là một biểu tượng sáng ngời như thế.
Suốt cuộc đời binh nghiệp lẫy lừng của vị anh hùng, trận chiến phòng ngự kiên cường trên đỉnh Đồi Xanh – cao điểm 781 – trong giai đoạn đầu của Chiến dịch Điện Biên Phủ luôn là khúc tráng ca được người đời nhắc nhớ nhiều nhất. Đồi Xanh nằm im lìm trên địa phận bản Tà Lèng, chỉ cách trung tâm cánh đồng Mường Thanh chừng ba cây số. Từ đỉnh cao chiến lược này, tầm mắt có thể bao quát toàn bộ khu vực phía đông của tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Cay cú vì để mất chốt chặn sống còn này vào tay ta, ngày 3 tháng 3, bộ chỉ huy quân Pháp điên cuồng điều động lực lượng nhằm tái chiếm bằng được Đồi Xanh. Đó thực sự là một cuộc quyết chiến sinh tử không cân sức, khi phía quân ta chỉ có vỏn vẹn hai trung đội (thuộc Đại đội 5, Tiểu đoàn 2, Trung đoàn 98, Đại đoàn 316) cắm chốt, trong khi kẻ thù huy động tới hai tiểu đoàn tinh nhuệ, được yểm trợ tối đa bởi xe tăng, máy bay và trọng pháo.
Tờ mờ sáng ngày 3 tháng 3, địch điên cuồng giội bom và pháo kích liên tục suốt nhiều giờ đồng hồ, biến màu xanh của ngọn đồi thành một "ngọn đồi đỏ" hoang tàn, tưởng chừng không một sinh linh nào có thể sống sót sau trận bão lửa. Thế nhưng, khi bộ binh địch ngạo nghễ bò lấn đến cách trận địa chỉ chừng 40-50m, toàn bộ chiến hào của ta bất ngờ đồng loạt nổ súng. Quân địch ngã rạp ngay từ những loạt đạn mở màn, những tên sống sót kinh hoàng tháo chạy thục mạng. Sau khi củng cố lại đội hình, chúng ngoan cố tổ chức bao vây, bò sát vào các mép công sự, tạo nên thế ngàn cân treo sợi tóc cho trận địa phòng ngự của ta. Lúc bấy giờ, với cương vị tiểu đội phó kiêm xạ thủ trung liên trấn giữ một mỏm đồi hiểm yếu, Đặng Đức Song vẫn bình tĩnh bắn cầm chừng để tiết kiệm từng viên đạn, vừa bắn chi viện cho đồng đội, vừa tập trung tiêu diệt những tên sĩ quan chỉ huy trước. Những loạt đạn khẩu trung liên của anh chính xác đến mức trở thành nỗi khiếp đảm của kẻ thù, cứ mỗi lần tiếng súng vang lên là chúng lại rúc đầu trốn chặt. Địch điên cuồng tập trung hỏa lực đánh mạnh vào hướng này hòng dập tắt khẩu trung liên, khoảng cách giữa hai bên nguy kịch đến mức nằm trong tầm ném lựu đạn. Đạn pháo ném tới tấp, một quả lọt thỏm vào công sự khiến đồng chí Chương bị thương nặng ở cổ. Ngay sau đó, một quả lựu đạn khác rơi xuống quay tròn, xì khói trắng xóa ngay sát sườn, Đặng Đức Song nhanh như cắt dùng chân hất văng quả lựu đạn đi rồi lại áp sát, nâng báng súng trung liên tiếp tục siết cò. Chứng kiến cảnh tượng ngạt thở đó, Danh – một chiến sĩ mới nằm bên cạnh – run run nói: “Địch đông quá”. Đặng Đức Song nghiêm giọng khích lệ: “Cứ bình tĩnh, đợi chúng đến thật gần rồi hẵng bắn”.
Đến 4 giờ chiều, tiếng kèn thu quân của địch vang lên bất lực. Tiểu đội của Đặng Đức Song điểm lại quân số thì các đồng chí Chương, Khơi, Khoái, Huệ đã anh dũng hy sinh, 5 đồng chí khác bị thương nặng mất sức chiến đấu, trận địa lúc này chỉ còn lại duy nhất anh và Danh. Ngày hôm sau, địch lại điên cuồng ném bom, có quả dội xuống cách chiến hào chỉ vài mét tạo thành một cái hố phễu khổng lồ. Trớ trêu thay, khi quân Pháp nống lên, chính cái hố phễu này lại trở thành vật cản khiến chúng vướng chân và buộc phải tháo lui xuống dốc. Hai bên rơi vào thế giằng co nghẹt thở suốt cả ngày hôm đó. Đặng Đức Song liên tục ném lựu đạn xuống ngăn địch, nhưng do dốc đứng, lựu đạn hầu hết đều lăn xuống tận chân đồi mới nổ. Sau một hồi tính toán, anh quyết định rút chốt lựu đạn, nhẩm đếm trong đầu “một, hai, ba” rồi mới vung tay ném, khiến quả đạn nổ tung ngay trên đầu đội hình địch, khiến chúng chạy tán loạn.
Kết thúc chiến dịch phòng ngự oanh liệt trên Đồi Xanh, đơn vị đã kiên cường đánh lui 24 đợt xung phong vũ bão của địch, tiêu diệt tại chỗ 255 tên, và có 24 chiến sĩ vinh dự được phong tặng danh hiệu “Dũng sĩ Đồi Xanh”. Riêng đồng chí Đặng Đức Song, với những cống hiến phi thường, đã được Nhà nước tuyên dương danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân vào ngày 7 tháng 5 năm 1956.
Người anh hùng Đặng Đức Song chính thức nghỉ hưu vào năm 1990 với quân hàm Đại tá trên cương vị Giám đốc Nhà máy Thông tin M1 thuộc Binh chủng Thông tin liên lạc. Mang theo phẩm chất cao quý của Bộ đội Cụ Hồ, ông bước vào đời thường với tinh thần "về hưu nhưng chưa nghỉ", lập tức lao vào các công việc của địa phương bằng sự năng nổ, nhiệt huyết như những ngày rực lửa ở Điện Biên Phủ năm xưa. Trong 7 năm đầu tiên sau khi rời quân ngũ, ông được tín nhiệm bầu làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh phường Láng Thượng, quận Đống Đa, TP Hà Nội. Đối mặt với muôn vàn bỡ ngỡ và khó khăn trong môi trường công tác mới, ông vẫn tích cực vận động các hội viên cựu chiến binh cùng các hộ dân trên địa bàn đoàn kết, đùm bọc, hỗ trợ lẫn nhau trong cuộc sống. Bên cạnh đó, ông luôn canh cánh trong lòng món nợ ân tình với những đồng đội đã ngã xuống. Sau suốt 3 năm ròng rã ngược xuôi tìm kiếm nhân chứng, lật giở hồ sơ và hoàn thiện các thủ tục pháp lý, ông đã góp công lớn giúp người đồng đội Nghiêm Xuân Tri (hy sinh năm 1951) được Nhà nước chính thức công nhận danh hiệu Liệt sĩ.
Sau khi khép lại nhiệm kỳ 7 năm làm Chủ tịch Hội Cựu chiến binh, Anh hùng Đặng Đức Song lại tiếp tục cống hiến thêm 7 năm nữa trên cương vị Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam phường Láng Thượng, trước khi tham gia vào hàng loạt công tác đoàn thể ý nghĩa khác. Phải mãi đến năm 2008, khi đã bước qua cái tuổi "thất thập cổ lai hy", ông mới thực sự chịu nghỉ ngơi. Ở bất kỳ vị trí hay công việc nào, ông cũng hoàn thành một cách xuất sắc, nhận được sự tin yêu, kính trọng sâu sắc của bạn bè, đồng nghiệp. Bản thân ông đã vinh dự được trao tặng nhiều bằng khen, giấy khen cao quý của Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đồng thời được vinh danh là báo cáo điển hình gương "Người tốt - Việc tốt" của thủ đô Hà Nội vào năm 1999.



