Anh hùng Lao động

DÁNG ĐỨNG BẤT TỬ TRÊN ĐƯỜNG BĂNG: NGƯỜI ANH HÙNG NGUYỄN VĂN TRỖI

Đà Nẵng18/08/2026Trường Đại học Hải Dương (Trường Đại học Hải Dương)7 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong dòng chảy cuồn cuộn của lịch sử dân tộc Việt Nam, mỗi thời đại đều sản sinh ra những người con ưu tú, những cá nhân mà cuộc đời họ đã vượt thoát khỏi giới hạn của một sinh mệnh thông thường để trở thành một "mã định danh văn hóa". Đối với sinh viên trường Đại học Hải Dương chúng tôi, khi lật lại những trang tư liệu về “thời hoa lửa”, hình tượng anh Nguyễn Văn Trỗi hiện lên không chỉ là một tấm gương hy sinh anh dũng. Cao hơn thế, đó là một thực thể triết học sống động, một minh chứng thép cho tinh thần:

"Có những phút làm nên lịch sử

Có cái chết hoá thành bất tử

Có những lời hơn mọi bài ca

Có con người như chân lý sinh ra."

                                          (Tố Hữu)

01/02/1940 – 15/10/1964

Nguyễn Văn Trỗi sinh năm 1940 tại xã Thanh Quýt, huyện Điện Bàn vùng đất Quảng Nam trung dũng, lớn lên trong khói lửa chiến tranh và là người con thứ ba trong một gia đình bần nông mất mẹ từ nhỏ. Trước sự đàn áp của Mỹ - Nguỵ tại Duy Xuyên, gia đình anh đã di cư vào Sài Gòn năm 1956, định cư tại ấp Tân Ba, Phú Thuận, thuộc quận Tân Bình. Tại đây, anh vừa làm thuê kiếm sống vừa học nghề điện và sau đó trở thành công nhân tại Nhà máy điện Chợ Quán. Chính cái xuất thân bình dị ấy đã làm nên sự vĩ đại của anh. Anh đại diện cho giai cấp công nhân Việt Nam – những người trực tiếp tạo ra ánh sáng cho thành phố nhưng lại sống trong bóng tối của ách áp bức đô hộ. 

Bị ảnh hưởng mạnh mẽ bởi phong trào yêu nước và cách mạng,năm 1963 Nguyễn Văn Trỗi gia nhập đội biệt động Sài Gòn, trở thành một chiến sĩ xuất sắc. Trong quá trình hoạt động cách mạng, anh luôn hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ được giao. Anh cùng đồng đội nhận nhiệm vụ đặt bom phá cầu Công Lý để giết Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Mắc Na-ma-ra, ngày 2-5-1964. Việc không thành, Nguyễn Văn Trỗi bị sa vào tay giặc. Quân địch dùng mọi cực hình tra tấn nhưng anh vẫn giữ vững khí tiết của người chiến sĩ cách mạng, nhận hết trách nhiệm về mình để bảo vệ đồng đội và tổ chức. Ngày 10/8/1964, anh bị đưa ra Toà án Quân sự và kết án tử hình. Tại toà, khi được hỏi anh muốn gì, anh dõng dạc trả lời: “Tôi chỉ tiếc rằng chưa giết được McNamara”.

Để cứu anh, một tổ chức du kích ở Vê-nê-du-ê-la yêu cầu trao đổi anh với Đại tá không quân Mỹ M.Xmô-len vừa bị tổ chức này bắt cóc, và tuyên bố: “Nếu xử bắn Nguyễn Văn Trỗi thì một giờ sau, ở Vê-nê-du-ê-la, sẽ xử bắn M.Xmô-len”. Hai bên đồng ý trao đổi tù binh. Thế nhưng, khi M.Xmô-len vừa được tự do, Mỹ và tay sai đã tráo trở, lật lọng. 9 giờ 50 phút ngày 15/10/1964, trước sự chứng kiến của nhiều phóng viên quốc tế Nguyễn Văn Trỗi bị xử bắn tại vườn bàng khám Chí Hòa, thế giới đã chứng kiến một cảnh tượng vô tiền khoáng hậu. Anh không đứng đó như một tử tù; anh đứng đó hiên ngang như một vị chủ nhân thực sự của đất nước này để phán xét sự phi nghĩa của cuộc chiến tranh xâm lược . Dù biết trước sẽ bị tử hình, anh vẫn luôn giữ vững tinh thần lạc quan và yêu đời. Tại pháp trường, anh tỏ ra bình thản và kiên quyết. Khi địch bịt mắt, anh giật tấm băng đen và nói:”Không, phải để tôi nhìn mảnh đất này, mảnh đất thân yêu của tôi”. Giây phút cuối cùng anh dõng dạc hô to: "Hãy nhớ lấy lời tôi. Đả đảo đế quốc Mỹ! Đả đảo Nguyễn Khánh", "Việt Nam muôn năm!", "Hồ Chí Minh muôn năm!" đã vang xa tận Nam Mỹ, truyền cảm hứng cho anh hùng Nguyễn Văn Trỗi của đất nước Venezuela xa xôi. 9 phút cuối cùng của đời mình, chiến sĩ biệt động Nguyễn Văn Trỗi đã tranh thủ từng giây, từng phút còn lại vạch trần bộ mặt xâm lược tàn bạo của đế quốc Mỹ và khẳng định sự tất thắng của cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Anh đã biến cái chết thành một sự khai sinh, biến pháp trường thành bục giảng về lòng yêu nước và ý chí tự cường dân tộc. Dù Mỹ-ngụy tìm mọi cách bưng bít nhưng ngày hôm sau, tất cả báo chí trong và ngoài nước có phóng viên ở Sài Gòn đều tường thuật tỉ mỉ “9 phút làm nên lịch sử” của người chiến sĩ biệt động Sài Gòn Nguyễn Văn Trỗi.

Trang nhất Báo QĐND số ra ngày 31-10-1964 đăng bức ảnh Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi trước phút hy sinh của Hãng thông tấn AFP và bài viết của nhà báo Phạm Phú Bằng.

Điểm chạm gây chấn động nhất trong cuộc đời anh Trỗi chính là sự đối lập nghiệt ngã giữa đời sống cá nhân và trách nhiệm lịch sử. Anh thực hiện nhiệm vụ đặt mìn tại cầu Công Lý khi mới kết hôn với chị Phan Thị Quyên được vỏn vẹn 10 ngày. Dưới góc độ tâm lý học hiện sinh, đây là một cuộc đấu tranh nội tâm đầy bi tráng. Mười ngày – quãng thời gian quá ngắn ngủi để tận hưởng dư vị ngọt ngào của hạnh phúc, nhưng lại đủ để anh khẳng định một triết lý: Hạnh phúc cá nhân không thể tồn tại vững bền trên một nền móng nô lệ.

"Anh đã chết, không một lời than vãn

Sống như Anh, ngàn năm sau còn sáng

Anh Trỗi ơi! Anh đã qua đời

Nhưng tên Anh còn mãi với muôn đời."

Việc anh gác lại tình yêu riêng không phải là sự chối bỏ cuộc sống, mà là sự khẳng định một tình yêu cao cả hơn – tình yêu tự do. Anh đã chọn "cái ta chung" thay vì "cái tôi riêng biệt", dùng máu của mình để bảo vệ cho quyền được sống, được yêu của hàng triệu thanh niên khác. 

Đây là tấm ảnh mới cưới của Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi và chị Phan Thị Quyên. Tấm hình này chị Quyên để tặng chú Chín Vinh vào ngày 15/10/1965, đúng sau 1 năm ngày anh Trỗi hy sinh. Khi đó chú Chín Vinh (Trần Độ) là uỷ viên TW Cục, Phó bí thư Quân uỷ miền, Phó chính uỷ Quân giải phóng miền Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ca ngợi sự hy sinh, dũng cảm và lòng kiên trung của anh hùng Nguyễn Văn Trỗi: “Vì Tổ quốc, vì nhân dân, liệt sỹ Nguyễn Văn Trỗi đã anh dũng đấu tranh chống đế quốc Mỹ đến hơi thở cuối cùng. Chí khí lẫm liệt của anh hùng Trỗi là một tấm gương hy sinh cách mạng sáng ngời cho mọi người yêu Nước, nhất là các cháu thanh niên học tập.”

Trong phiên họp bất thường ngày 17/10/1964, Uỷ ban Trung ương Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã quyết định truy tặng Nguyễn Văn Trỗi danh hiệu Anh hùng các lực lượng vũ trang nhân dân giải phóng và Huân chương Thành đồng hạng nhất. Năm 1982, Ban chấp hành Thành đoàn thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định lấy ngày 15/10 – ngày hy sinh của anh Trỗi – làm ngày truyền thống thanh niên công nhân thành phố Hồ Chí Minh. Năm 1995, Đảng và Nhà nước đã truy tặng anh danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân.

Tuổi trẻ Điện Bàn tổ chức Lễ kỷ niệm 60 năm Ngày Anh hùng Liệt sĩ Nguyễn Văn Trỗi hy sinh

Khép lại câu chuyện về người Anh hùng Nguyễn Văn Trỗi, bản thân tôi – một sinh viên Trường Đại học Hải Dương trong kỷ nguyên mới mang trên mình sứ mệnh to lớn không chỉ là tiếp thu tri thức mà còn là lực lượng tiên phong trong đổi mới và phát triển xã hội. Tôi nhận thấy mình và các sinh viên khác cần chủ động học tập, rèn luyện tư duy sáng tạo, khả năng thích ứng và làm chủ công nghệ hiện đại. Việc nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ và kỹ năng số không còn là lựa chọn mà đã trở thành yêu cầu bắt buộc để hội nhập và cạnh tranh trong thị trường lao động toàn cầu.

Bên cạnh đó, mỗi sinh viên chúng ta cần ý thức sâu sắc về việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, xây dựng lối sống lành mạnh, có đạo đức và trách nhiệm với cộng đồng. Trong một xã hội ngày càng đa dạng và hội nhập, việc giữ vững giá trị cốt lõi sẽ giúp mỗi cá nhân không bị hòa tan mà vẫn khẳng định được bản sắc riêng của mình. Đồng thời, tinh thần cống hiến cũng là một yếu tố không thể thiếu. Sinh viên cần gắn kiến thức đã học với thực tiễn, tích cực tham gia các hoạt động tình nguyện, nghiên cứu khoa học, khởi nghiệp sáng tạo, qua đó đóng góp thiết thực cho sự phát triển của địa phương và đất nước. Quan trọng hơn, mỗi sinh viên trong thời đại mới phải xây dựng cho mình bản lĩnh vững vàng và lý tưởng sống rõ ràng. Trước những cơ hội và thách thức đan xen, nếu thiếu định hướng, con người rất dễ bị cuốn theo những giá trị nhất thời. Vì vậy, việc không ngừng hoàn thiện bản thân, rèn luyện ý chí, tinh thần trách nhiệm và khát vọng vươn lên chính là nền tảng để mỗi sinh viên trở thành công dân có ích. Từ đó, họ không chỉ phát triển bản thân mà còn góp phần tạo dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

Câu chuyện về anh là một lời nhắc nhở sắc sảo: “Hòa bình hôm nay được đánh đổi bằng máu và nước mắt của cha ông”. Chúng tôi tự hứa sẽ tiếp bước anh, sống một tuổi trẻ rực rỡ và có ích, để xứng đáng với danh hiệu "Thanh niên thế hệ Bác Hồ".


Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn