DÁNG ĐỨNG HIÊN NGANG VÀ ÂN TÌNH NƠI ĐẤT MẸ BIÊN CƯƠNG
Thực hiện kế hoạch và hướng dẫn của Ban Thường vụ Đoàn xã Phù Đổng về việc triển khai Đề án "Câu chuyện thời hoa lửa", nhằm ôn lại truyền thống hào hùng, bồi đắp lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ, em và các bạn học sinh lớp 5A7 Trường Tiểu học Ninh Hiệp - Phân hiệu Lê Ngọc Hân đã có dịp tìm hiểu, gặp gỡ và lắng nghe những ký ức đầy xúc động từ cựu chiến binh Nguyễn Minh Hồng. Câu chuyện của bác không chỉ là những trang sử sống về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979, mà còn là bản hùng ca bi tráng và đẫm nước mắt về một thời tuổi trẻ hiến dâng trọn vẹn cho Tổ quốc, về tình đồng chí keo sơn, tình quân dân cá nước thủy chung sâu nặng và cả những linh cảm tâm linh kỳ diệu trên hành trình tìm lại hài cốt người chỉ huy năm xưa.

BÀI VIẾT DỰ THI ĐỀ ÁN "CÂU CHUYỆN THỜI HOA LỬA"
ĐỀ TÀI: DÁNG ĐỨNG HIÊN NGANG VÀ ÂN TÌNH NƠI ĐẤT MẸ BIÊN CƯƠNG
• Tên câu chuyện: Dáng đứng hiên ngang và ân tình nơi đất mẹ biên cương
• Tác giả / Người thực hiện: Em Nguyễn Lê Nhã Anh
• Đơn vị: Học sinh lớp 5A7, Trường Tiểu học Ninh Hiệp - Phân hiệu Lê Ngọc Hân (xã Phù Đổng, thành phố Hà Nội)
I. LỜI MỞ ĐẦU: KÝ ỨC VỌNG VỀ TỪ THỜI HOA LỬA
Thực hiện kế hoạch và hướng dẫn của Ban Thường vụ Đoàn xã Phù Đổng về việc triển khai Đề án "Câu chuyện thời hoa lửa", nhằm ôn lại truyền thống hào hùng, bồi đắp lòng yêu nước và niềm tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ, em và các bạn học sinh lớp 5A7 Trường Tiểu học Ninh Hiệp - Phân hiệu Lê Ngọc Hân đã có dịp tìm hiểu, gặp gỡ và lắng nghe những ký ức đầy xúc động từ cựu chiến binh Nguyễn Minh Hồng. Câu chuyện của bác không chỉ là những trang sử sống về cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979, mà còn là bản hùng ca bi tráng và đẫm nước mắt về một thời tuổi trẻ hiến dâng trọn vẹn cho Tổ quốc, về tình đồng chí keo sơn, tình quân dân cá nước thủy chung sâu nặng và cả những linh cảm tâm linh kỳ diệu trên hành trình tìm lại hài cốt người chỉ huy năm xưa.

Ảnh 1: Cựu chiến binh Nguyễn Minh Hồng – nhân chứng lịch sử của đại đội C4, Tiểu đoàn 8 năm xưa.
II. NỘI DUNG CÂU CHUYỆN: Lá ĐƠN TÒNG QUÂN CỦA CHÀNG TRAI 39 CÂN RƯỚI VÀ BẢN TRÁNG CA BIÊN CƯƠNG
Ngồi bên chén nước trà ấm áp trong ngôi nhà nhỏ ở thôn 3 Ninh Hiệp, đôi mắt cựu chiến binh Nguyễn Minh Hồng bỗng đỏ hoe, ngấn lệ. Bác chậm rãi ngược dòng thời gian trở về những năm tháng tuổi trẻ đầy nhiệt huyết nhưng cũng vô cùng nghiệt ngã của mùa xuân năm 1979:
"Khi ấy, đất nước bước vào những ngày tháng sục sôi trước họa xâm lăng ở biên giới phía Bắc, nghe tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, dẫu tuổi đời còn rất trẻ và non nớt, tôi đã mạnh dạn viết đơn xung phong tòng quân ra trận. Nhìn lại mình lúc đó, chiều cao, cân nặng chẳng đủ tiêu chuẩn đâu các cháu ạ, cả người còi cọc chỉ nặng vỏn vẹn có 39 cân rưỡi! Ban đầu người ta gạt ra vì không đủ điều kiện sức khỏe, thế nhưng với quyết tâm sục sôi muốn đem sức trẻ hiến dâng cho non sông, tôi đã kiên trì xin xỏ, tìm đủ mọi cách để được chính thức khoác lên mình bộ quân phục. Những ngày đầu ra trận, bỡ ngỡ và non nớt lắm chứ, nhưng vào đến đơn vị, anh em đồng chí trong đại đội C4 thương yêu nhau như máu thịt trong nhà, chia sẻ từng hạt muối, củ sắn, dìu dắt nhau qua từng bước đi chập chững của người lính chiến... Tình đồng chí thiêng liêng ấy chính là điểm tựa vững chắc nhất để chúng tôi vượt qua mưa bom bão đạn."
Nhưng rồi, những ngày tháng rèn luyện bỡ ngỡ ấy nhanh chóng nhường chỗ cho khói lửa chiến tranh khốc liệt tột cùng:
"Sáng ngày 17 tháng 2 năm 1979, quân địch tràn lên đông như kiến cỏ, khí thế vô cùng hung hãn. Pháo cao xạ rền vang không ngớt, đạn bom xé nát cả núi rừng, đất trời chìm trong biển lửa và khói mịt mờ. Với ý chí 'tất cả vì biên giới màu cờ sắc áo', anh em đại đội C4 chúng tôi vẫn kiên cường bám trụ từ 5 giờ sáng đến 12 giờ trưa. Nhìn từng người đồng đội ngã xuống trong tiếng bom rơi, xé lòng lắm các cháu ạ..."
Bác Hồng nấc nghẹn khi nhớ về khoảnh khắc vĩnh biệt người trung đội trưởng kiên trung ngay trong làn đạn:
"Đồng chí trung đội trưởng của chúng tôi không may bị đạn thù bắn trúng vào vùng trán, vùng đầu. Tôi cuống cuồng chạy lại, nghẹn ngào cởi ngay chiếc áo lót của mình ra để xé làm băng gạc, cố gắng băng bó, cầm máu cho anh nhưng vết thương quá nặng. Hơi thở của anh yếu dần trong vòng tay đồng đội. Trước khi vĩnh biệt anh em để đi xa mãi mãi, anh chỉ kịp thều thào dặn lại: 'Các đồng chí ở lại... giữ lấy chốt... quyết không lùi...'. Rồi anh trút hơi thở cuối cùng. Hình ảnh vị chỉ huy ngã xuống hiên ngang giữa biển lửa đã trở thành mệnh lệnh thiêng liêng, khắc sâu vào tâm khảm tôi suốt cuộc đời."
Bác Hồng kể tiếp về sự chênh lệch lực lượng đến xót xa trong trận chiến tại chốt Hốc Môn Na Tiền ngày 27 tháng 2 năm 1979:
"Quân địch tràn lên ngồn ngụt, những tên lính cao to vạm vỡ, cao tới mét tám, mét chín, lừng lững như những cỗ xe tăng người. Trong khi đó, anh em bộ đội ta gầy gò, nhỏ bé biết bao. Từ phía bên kia, tiếng loa phóng thanh của giặc liên tục gầm rú đe dọa: 'Hàng thì sống, chống thì chết!'. Giữa lằn ranh sinh tử, áp lực tâm lý đè nặng, có những người lính trẻ giây phút ấy đã hoảng sợ, rụt rè thốt lên: 'Hay là chúng ta đầu hàng đi?...'. Nhưng ngay lập tức, ngọn lửa căm thù và lòng trung thành tuyệt đối đã dập tắt ý nghĩ ấy. Tôi và anh em kiên quyết gạt phăng đi, trừng mắt quát lớn: 'Không! Sống bám đá chết hóa đá, dứt khoát không hàng! Quyết chiến đến giây phút cuối cùng!'. Khí phách ấy đã át đi tiếng loa giặc, biến những thân hình nhỏ bé nặng chưa đầy 40 cân thành những bức tường thép kiên cường."
Trải qua những trận chiến liên miên, đại đội C4 chịu tổn thất vô cùng đau xót:
"Đại đội tôi có tròn một trăm anh em, thế mà qua khói lửa chiến tranh, tổn thất mất một nửa, khoảng 50 đến 60 đồng chí mãi mãi nằm lại chiến trường. Hầu hết anh em đồng đội của tôi đã vĩnh viễn vùi thân nơi đất mẹ, chỉ còn tôi và một vài người may mắn sống sót nhờ tình nghĩa quân dân sâu nặng, sự cưu mang đùm bọc vô điều kiện của đồng bào dân tộc Nùng nơi biên giới."
Bác Hồng xúc động kể sâu hơn về ân tình sâu nặng với đồng bào dân tộc Nùng – những con người đã cưu mang, che chở và cứu mạng bộ đội trong những giờ phút hiểm nghèo nhất:
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
"Đêm 17, rạng sáng ngày 18 tháng 2, sau trận chiến mở màn tại Nà Thâm, tôi bị kẹt lại một mình trong khe núi lạnh giá. Khi dò dẫm rút lui, tôi tình cờ phát hiện một đồng chí dân quân người dân tộc Nùng to béo bị trúng đạn nghiêm trọng vào vùng đùi gối, không thể tự di chuyển. Nhìn đồng chí ấy, rồi nhìn lại thân hình còi cọc 39 cân rưỡi của mình, tôi chẳng màng hiểm nguy, nghiến răng quyết định vừa dìu vừa cõng đồng chí ấy đi bộ ròng rã hơn 10 cây số đường rừng hiểm trở. Ra đến ngoài, gặp anh em đồng bào Nùng tiếp sức, đưa thẳng lên ô tô chuyển về Bệnh viện 110 cấp cứu kịp thời, giữ lại được tính mạng cho anh ấy. Với đồng bào Nùng, bộ đội và người dân luôn coi nhau như ruột thịt máu mủ, sẵn sàng chia sẻ từng củ sắn lùi, từng bát nước chát giữa rừng sâu. Nghĩa tình ấy sâu nặng ngút ngàn, theo suốt cuộc đời tôi. Tết năm vừa rồi, khi hai anh em gặp lại nhau khi tuổi đã 85, 90, tay bắt mặt mừng, mừng vui khôn xiết khi nghĩ lại năm xưa nếu không có phút giây bấu víu ấy thì nay đã âm dương cách biệt..."
"Đồng bào Nùng thương bộ đội như con em ruột thịt trong nhà. Khi chúng tôi đói rét, bà con dù nhà chỉ còn nắm cơm vắt hay bắp ngô luộc cũng mang ra chia cho bộ đội. Khi bị thương, bà con che giấu trong bản, nhường cả chiếc giường duy nhất cho thương binh nằm. Ân tình ấy, cuộc đời này tôi không bao giờ quên."
Và câu chuyện thiêng liêng, đẫm nước mắt nhất chính là hành trình nhiều năm sau quay lại tìm hài cốt người trung đội trưởng – minh chứng cho tình đồng chí thủy chung trọn nghĩa vẹn tình:
"Nhiều năm sau chiến tranh, khi có dịp cùng đồng đội cũ quay lại chiến trường xưa để tìm kiếm hài cốt liệt sĩ, chúng tôi đã tìm được phần thân của chú trung đội trưởng hy sinh năm ấy. Thế nhưng, phần đầu bị thương nặng ngày trước thì tìm mãi, tìm mãi vẫn không thấy đâu, anh em ai nấy quặn thắt ruột gan, nước mắt trào ra. Bữa đó, chúng tôi thành tâm thắp nén hương trầm, nước mắt đầm đìa khấn vọng: 'Anh ơi, anh có linh thiêng thì hãy dẫn đường cho anh em tìm thấy phần đầu của anh, để anh được vẹn toàn hình hài về với quê hương, về với gia đình...'. Vừa dứt lời khấn, tôi ngước mắt lên nhìn vào một hốc cây lớn gần đó thì bàng hoàng, nghẹn ngào thấy ngay chiếc hộp sọ nằm gọn lỏn trong hốc cây chính là phần đầu của người bạn chí cốt. Đêm ấy, anh em ôm nhau khóc nghẹn trong mưa rừng... Tình đồng chí thiêng liêng là thế đấy các cháu ạ, dẫu âm dương cách biệt nhưng tâm linh và nghĩa tình vẫn mãi gắn kết. Cho đến tận bây giờ, mỗi lần có dịp quay lại thăm chiến trường xưa, bước chân vào chốn cũ là mắt tôi lại tự nhiên ứa nước mắt, xót xa khôn nguôi khi nghĩ về những người đồng đội đã ngã xuống khi tuổi đời hãy còn quá trẻ."


Ảnh 2: Thế hệ học sinh Trường Tiểu học Ninh Hiệp chăm chú lắng nghe cựu chiến binh Nguyễn Minh Hồng kể lại ký ức hào hùng
của "thời hoa lửa".
III. Ý NGHĨA GIÁO DỤC VÀ SỨC LAN TỎA
Lắng nghe câu chuyện của cựu chiến binh Nguyễn Minh Hồng, trái tim em và các bạn học sinh lớp 5A7 không khỏi thắt lại trước sự bi tráng của lịch sử, trước sự hy sinh lặng thầm nhưng vĩ đại của các anh hùng liệt sĩ. Từ lá đơn tòng quân của chàng thanh niên 39 cân rưỡi mang đầy khát vọng cống hiến, đến những trận chiến giáp lá cà khốc liệt, sự hy sinh anh dũng của người trung đội trưởng, tình đồng chí keo sơn gắn bó, tình nghĩa quân dân sâu nặng nghĩa tình với đồng bào dân tộc Nùng và cả những linh cảm tâm linh thiêng liêng – tất cả đã tạc nên một bức tượng đài bất tử về người lính C4 năm xưa.
Là những đội viên, học sinh đang học tập dưới mái trường Tiểu học Ninh Hiệp - Phân hiệu Lê Ngọc Hân trên mảnh đất Phù Đổng giàu truyền thống, em và các bạn vô cùng tự hào và biết ơn sâu sắc. Câu chuyện "thời hoa lửa" này chính là bài học lịch sử sống động nhất, bồi đắp cho chúng em lòng yêu nước, ý chí vươn lên trong học tập và rèn luyện. Thế hệ thiếu nhi chúng em nguyện sẽ luôn chăm ngoan, học giỏi, tiếp bước cha anh xây dựng quê hương Ninh Hiệp, Phù Đổng ngày càng giàu đẹp, văn minh, xứng đáng với sự hy sinh xương máu của các thế hệ cha ông đi trước.


