DÁNG HÌNH TRONG LỬA ĐẠN: NỮ ANH HÙNG LIỆT SĨ BÙI THỊ CÚC - NIỀM TỰ HÀO CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN
Sáng nay, khi giúp ông nội sắp xếp lại những tờ báo cũ, tôi đã vô tình đọc được một cái tên: Bùi Thị Cúc. Tôi cứ nghĩ rằng đó chỉ là 1 cái tên bất kì của ai đó nên đã không quá để tâm. Đến trưa nay khi ăn cơm, tôi đã hỏi ông nội về cái tên đó và tôi đã bất ngờ biết được rằng đó không phải chỉ đơn giản là tên của một người bình thường mà đó chính là tên của nữ anh hùng liệt sĩ đã đi vào sử sách với sáu chữ vàng: “Sống anh dũng - chết vẻ vang” do Chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng.
Một sự hứng thú và tò mò nổi lên trong lòng, tôi đã nhanh chóng lên mạng tìm hiểu về thông tin của chị ngay sau khi ăn xong. Tôi biết được rằng, Liệt sỹ CAND Bùi Thị Cúc tên thật là Trần Thị Lan, sinh năm 1930 tại làng Vân Mạc, xã Quang Trung, huyện Ân Thi, nay là thôn Vân Mạc, xã Vân Du, huyện Ân Thi, tỉnh Hưng Yên. Vào những năm 1947 - 1950 cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ngày càng cam go ác liệt, địch ra sức khủng bố, đàn áp phong trào Cách mạng ở địa phương, nhiều nơi lâm vào hoàn cảnh khó khăn, gian khổ. Khi ấy chị Cúc mới 20 tuổi đã hiên ngang, kiên cường, anh dũng hy sinh.
Tôi bị cuốn hút vào chiếc màn hình máy tính, trang thông tin điện tử Công an Hưng Yên đưa tôi du hành về những năm 1947 - 1950 của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Những ngày tháng đó, Ân Thi là một huyện “nóng” của tỉnh Hưng Yên, quân địch đóng bốt và lập căn cứ vùng tề ở hầu hết các xã trọng điểm, xã Quang Trung có 12 thôn thì có 4 thôn lập tề. Chúng xây dựng bốt Cảnh Lâm để khống chế các vùng lân cận và kiểm soát quốc lộ số 5. Tên Nguyễn Doãn Súy làm xếp bốt, Nguyễn Doãn Tín và Nguyễn Doãn Nhi (anh em vợ Súy), đều làm việc ở phòng nhì, chúng là địa chủ gian ác rất nguy hiểm bắt nhân dân phải quy hàng để phục dịch cho bộ máy cai trị của chúng. Đảng bộ huyện Ân Thi đã chủ trương phá tề, tiêu diệt bọn phản động và những tên đầu sỏ có nhiều nợ máu với nhân dân. Chủ trương của Công an tỉnh là chuyển hướng hoạt động từ “bao vây kinh tế địch” sang “nắm địch tình”, phát triển nhân mối trong quần chúng.
Huyện ủy Ân Thi giao nhiệm vụ cho chị Cúc làm công tác địch vận, cử chị đi học lớp bồi dưỡng ngắn ngày ở Hải Dương do ngành Công an huấn luyện. Tháng 12/1949 chị Cúc trở thành cán bộ Công an, được phân công về đội công tác của Công an huyện, làm nhiệm vụ công tác phản gián và địch vận, nắm tình hình, thu thập tin tức, hoạt động của địch trong vùng, với vỏ bọc là cán bộ cầu an, thoái hóa biến chất, buôn bán làm giàu.
Vì thế mà cô thôn nữ xinh đẹp ấy lại bị nhân dân trong làng, xã và gia đình nghi ngờ
Dù phải chịu đau khổ, nhịn nhục trước những dị nghị và cả những lời nhục mạ của dân làng, chị âm thầm nén lại và vượt lên chính mình vì nhiệm vụ lớn lao mà Đảng và tổ chức giao phó. Sau một thời gian cố gắng, chị đã tiếp cận làm quen với một số binh lính và sếp phòng nhì Nguyễn Doãn Nhi.
Vì nhiệm vụ cấp trên giao, chị đành nén tình riêng để thực hiện kế hoạch “mỹ nhân kế” đối với địch. Qua một số việc làm, các cơ sở của ta đã chiếm được lòng tin của tên Nhi, cho nên những tin tức quan trọng của địch trong vùng đều bị ta nắm được và kịp thời có chủ trương đối phó.
Thực hiện kế hoạch chỉ đạo của tổ chức Công an, chị Cúc mời tên Nhi đến nhà chị bàn chuyện, lực lượng của ta được bố trí sẵn, chờ tên Nhi đến là ra tay tiêu diệt. CHị Cúc phối hợp cùng anh Đệ, anh Mỡ và cụ Ba đã kết liễu cuộc đời của tên độc ác. Tên Nhi đã phải đền tội, đồng thời bên ta thu được 01 súng ngắn, 01 cặp tài liệu và rút ra căn cứ, an toàn. Xác tên Nhi được kéo ra ruộng khoai mới giỡ ở gần đó, vùi vội xuống.
Bị mất tên quan ba, ngay chiều hôm đó, thằng Tín - em trai Nhi, cho lính vây ráp, càn quét thôn Vân Mạc và các thôn lân cận, chúng bắt đi rất nhiều người chỉ để tìm kiếm tung tích của tên Nhi và chị Cúc cũng đã không may mắn. Chị đã bị tra tấn, dụ dỗ, hăm dọa không khác thời trung cổ. Nhưng chúng đã không thể khuất phục được người con gái 20 tuổi, với thân hình mảnh dẻ nhưng ý chí kiên cường, chị giữ vững khí tiết của người Đảng viên Cộng sản, trước sau chị một mực trả lời: “không biết”.
Một người vì muôn người
Sau khi đã tìm thấy tên Nhi, chúng đem chị từ Cống Tráng về giam ở bốt Cảnh Lâm và tiếp tục áp dụng những đòn tra tấn vô nhân đạo gấp bội. Chúng dùng dao sắc rạch người chị theo hình quả trám làm khắp người chị rỉ máu đỏ lòm. Khi biết chúng đã tìm được xác tên Nhi và hơn 40 người dân Vân Mạc đang bị chúng giam giữ, đánh đập, cứ mỗi lần bị tra tấn và hỏi ai đã giết tên Nhi, chị cứng cỏi nhận: “chính tao giết nó để trừng trị tên phản bội”, “chỉ một mình tao hành động!”.
Trong những ngày gia đình thằng Tín chuẩn bị chôn cất tên Nhi, chúng đem trói chị Cúc vào một gốc cây ở ngõ, tiếp tục tra tấn chị. Sau những trận đòn thù khốc liệt, chị yếu hẳn, nói khàn khàn không thành tiếng nữa. Trên người chị lúc bấy gì chỉ còn lại một mảnh quần rách tả tơi, bê bết máu, mái tóc dài đen như mun đã bị cắt gọt nham nhở, bết dày máu khô. Chị nói với anh em bị giam chung một nơi: “Tôi nhận cả về tôi rồi, đừng ai khai gì cả”. Chị lại dặn các đồng chí đảng viên có mặt “Thế nào nó cũng giết tôi. Dù chết tôi cũng không khai ai cả, các đồng chí cứ yên tâm. Chúc các đồng chí ở lại mạnh khỏe. Có gặp mẹ tôi, nhờ các đồng chí động viên cụ giúp tôi”. Không khai thác được gì từ chị Cúc, chúng thả hầu hết bà con làng Vân Mạc, chỉ giữ lại chị và mấy người.
Bất lực trước sự hiên ngang và ý chí kiên cường của chị, sáng ngày 15/5/1950 (tức ngày 29/3 âm lịch), giữa phiên chợ Cảnh Lâm, bọn lính kéo đến, chia nhau gác cổng chợ và càn mọi người ra chân đê, lúc đó mọi người mới biết là sắp phải chứng kiến cảnh chúng hành hình chị Cúc. Đám đông đang ồn ào xô đẩy chợt lặng đi, bọn lính dẫn chị Cúc từ bốt Cống Tráng đến. Chị đị trước, dù vẻ ngoài đã tàn tạ nhưng đôi mắt chị vẫn sáng long lanh và dáng đi kiêu hãnh, bình thản một cách lạ thường. Chúng đóng chị Cúc theo dọc đê đến nơi chúng hành hình. Chúng đào 1 hố sâu 2m, đóng 2 chiếc cọc tre, sau đó giăng 2 tay chị vào 2 cọc, treo chị lơ lửng trên miệng hố như hình Giê-su chịu nạn. Cuộc hành hình man rợ trước sự chứng kiến của hàng ngàn người dân trong vùng hòng làm lung lạc ý chí của Đảng viên và nhân dân ta.
Đầu tiên, thằng Tín cầm con mã tấu dài đến sát miệng hố dí vào mặt chị Cúc, hét lớn: “Cúc, ai giết anh tao?”, “tao giết!”. Thanh mã tấu giơ lên, nó phạt luôn hai bầu vú chị hất xuống hố, máu đỏ lòm khoang ngực. Chị đưa mắt nhìn về phía nhân dân (những người bị chúng lùa đến để bắt buộc phải chứng kiến cuộc hành hình nhằm khủng bố tinh thần dân chúng, đồng thời cũng là những người thay mặt nhân dân trong vùng tiễn biệt chị), với cặp mắt ngời khí sắc, như muốn nhắc nhở những người dân, hãy hiên ngang không lùi bước. Chị cố gắng hô: “Hồ Chủ tịch muôn năm”. Thấy thế, chúng điên cuồng, một thằng túm tóc giật ngửa đầu chị về phía sau, thằng Tín cầm dao đâm mạnh vào cổ chị vừa hét to: “tao giết mày như mày đã giết anh tao”. Mọi người rùng mình khiếp hãi. Những tiếng la ó, gào thét phần nộ nổi lên. Dòng máu đỏ theo lưỡi dao phụt mạnh vào mặt nó. Nổi xung, nó giật lấy cái mã tấu của thằng lính đứng cạnh, hằn học đâm liên tiếp vào chị rồi vung tay chặt đứt lìa hai tay chị Cúc, chị rơi tụt xuống hố. Tên quan ba Pháp run run tay làm dấu thánh giá trước khi bước lên, đưa mũi súng ngắn bắn vào đầu chị. Hai tên khác cắt rời hai tay chị ra khỏi cọc tre, gạt xuống hố, lấp đất.
Cứ thế, chị Cúc đã hiên ngang, kiên cường, anh dũng hy sinh, thể hiện phẩm chất cao quý của người Đảng viên Cộng sản, người chiến sỹ Công an Cách mạng, người phụ nữ kiên trung, bất khuất. Gương chiến đấu, hy sinh của nữ chiến sỹ CAND Bùi Thị Cúc đã được đồng bào, đồng chí vô cùng cảm phục, nén đau thương, căm phẫn và uất ức chờ ngày trả thù cho Chị - người con gái tận trung với Đảng, tận hiếu với dân, với nước.
Sự hi sinh của liệt sĩ Bùi Thị Cúc chính là minh chứng cho tinh thần: “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Ở độ tuổi thanh xuân đẹp nhất đời người con gái, chị đã đối mặt với cái chết để bảo vệ đồng đội và lý tưởng cách mạng. Điều đó nhắc nhở chúng ta rằng, hòa bình hôm nay không tự nhiên mà có; nó được đánh đổi bằng máu xương và nước mắt của những người đi trước. Đối với những người trẻ như tôi, lòng biết ơn không chỉ dừng lại ở những đóa hoa thắp nén tâm nhang vào ngày thương binh liệt sĩ, mà phải chuyển hóa thành sự thấu hiểu về giá trị của độc lập, tự do. Chúng ta nợ những người anh hùng như bà một lời hứa: sống sao cho xứng đáng với sự hy sinh vĩ đại đó.
Tuổi trẻ sống trong hòa bình hôm nay phải tiếp bước tinh thần “người con gái đất sông Hồng”, mỗi người càng cần phải trân trọng hiện tại đem khát vọng và nhiệt huyết để viết tiếp lên những trang sử hào hùng, xây dựng một Việt Nam hùng cường, giàu, đẹp và văn minh bằng các hành động thiết thực. Nếu ngày xưa cha ông cầm sung giữ nước thì ngày nau, vũ khí của người trẻ chính là tri thức, bản lĩnh, sống có lý tưởng, trách nhiệm, dũng cảm và luôn sẵn sàng.


