ĐẶNG HUY TRỨ-BỘ ÓC CANH TÂN VÀ TẤM LÒNG DẤN THÂN VÌ DÂN VÌ NƯỚC
Nửa sau thế kỷ XIX, đất nước Việt Nam bước vào một trong những giai đoạn giông bão và bi thương nhất của lịch sử dân tộc. Trước sức ép quân sự và làn sóng xâm lược từ phương Tây, triều đình nhà Nguyễn đứng trước khủng hoảng sâu sắc về đường lối: “chọn bảo thủ, khép kín hay đổi mới, canh tân để tự cường”. Giữa bầu không khí ngột ngạt và sự bế tắc của tầng lớp sĩ phu thời bấy giờ, Đặng Huy Trứ nổi lên như một điểm sáng rực rỡ — một nhà trí thức dấn thân, một tư tưởng lớn đi trước thời đại và là một vị quan thanh liêm hết lòng vì dân vì nước.Không dừng lại ở những lời tấu trình hay ý tưởng trên giấy, Đặng Huy Trứ đã đem toàn bộ trí tuệ, sức lực và cả mạng sống của mình để hiện thực hóa con đường canh tân. Từ việc đưa nhiếp ảnh vào Việt Nam, tổ chức thương nghiệp, khai mỏ, tiếp thu kỹ thuật phương Tây, đến việc chống tham nhũng, tổ chức quân sự và chăm lo đời sống nhân dân, mọi công lao của ông đều hướng về một mục tiêu tối thượng: làm cho dân giàu, nước mạnh, đủ sức giữ vững độc lập dân tộc.
Đặng Huy Trứ , tự Hoàng Trung, hiệu Võng Tân, Tỉnh Trai, tục gọi là Bố Trứ - Bố Đặng (do ông từng làm Bố chính), pháp danh Đức Hải, quê làng Bát Vọng, sau sang ngụ ở làng Thanh Lương - nay thuộc phường Kim Trà, thành phố Huế. Ông mất năm Giáp Tuất (1874) tại xã Cao Lăng, Chợ Bến, Đồn Vàng, thuộc tổng Mỹ Đức, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội). Sau này ông được đưa về an táng tại Hiền Sĩ, nay ở phường Phong Thái, thành phố Huế.
Ông từ nhỏ đã nổi tiếng thông minh, đĩnh ngộ. Với trí tuệ thiên bẩm cùng tinh thần hiếu học, đường khoa cử của ông tưởng chừng sẽ vô cùng hanh thông và rộng mở.Năm 1847, trong khoa thi Hương và thi Hội, ông liên tiếp vượt qua các vòng thi với kết quả xuất sắc và đã chắc chắn đỗ Tiến sĩ. Bước vào kỳ thi Đình — kỳ thi cao nhất để định thứ hạng, do bài thi phạm húy nên ông bị kết tội, bị cách tuột toàn bộ kết quả và cấm thi trọn đời.
Biến cố cay đắng ấy tưởng chừng đã khép lại sự nghiệp quan trường của một tài năng trẻ. Thế nhưng, biết tài học của ông, một vị quan lớn đương triều đã mời ông về dạy học cho con em trong nhà. Suốt 8 năm lặng lẽ gieo chữ và rèn luyện bản thân, ông không chán nản hay buông xuôi. Đến năm 1855, nhờ vị quan nọ tâu xin với vua nên ông được thi lại và đỗ Tiến sĩ.
Bắt đầu sự nghiệp quan trường từ năm 1856, trong suốt 18 năm làm quan dưới triều vua Tự Đức, Đặng Huy Trứ đã có cơ hội cống hiến ở nhiều cương vị khác nhau và xây dựng được mối quan hệ sâu rộng với mọi tầng lớp nhân dân cũng như giới sĩ phu trong và ngoài nước. Giai đoạn từ năm 1856 đến năm 1864, ông liên tục được triều đình tín nhiệm giao phó nhiều trọng trách, lần lượt kinh qua các chức vụ từ Thông phán Ty Bố chính Thanh Hóa, Tri huyện Quảng Xương, Tri phủ Thiên Trường (Nam Định), cho đến Hàn lâm viện trước tác và Ngự sử. Năng lực quản lý của ông tiếp tục được khẳng định khi bước sang năm 1864, ông được bổ nhiệm làm Bố chính Quảng Nam — một địa bàn kinh tế trọng điểm. Bốn năm sau (1868), ông trở thành Biện lý Bộ Hộ, trực tiếp phụ trách Ty Bình chuẩn tại Hà Nội nhằm chuyên tâm dốc sức lo liệu việc kinh tế, tài chính, giao thương cho triều đình.
Không chỉ giới hạn ở lĩnh vực dân sự và kinh tế, khi đất nước cần, đến năm 1871, ông dấn thân sang lĩnh vực quân sự với chức vụ Bang biện quân vụ quản lý một dải biên viễn Lạng – Bằng – Ninh – Thái. Tuy nhiên, trước bối cảnh thù trong giặc ngoài ngày càng phức tạp, vào cuối năm 1873, ông buộc phải lui quân về căn cứ Đồn Vàng (Hưng Hóa) dưới quyền Tổng thống quân vụ Hoàng Kế Viêm để mưu tính cuộc kháng chiến lâu dài chống Pháp. Đáng tiếc thay, những dự định tâm huyết dâng trào ấy đành phải dở dang khi triều đình vội vã ký kết Hòa ước Giáp Tuất vào năm 1874.
Dù luân chuyển qua rất nhiều vị trí và hoàn cảnh, dấu ấn lớn nhất mà Đặng Huy Trứ để lại chốn quan trường chính là cốt cách thanh liêm, chính trực. Nhờ những chuyến đi sứ qua nhiều quốc gia như Trung Quốc, Triều Tiên, Xiêm La (Thái Lan), ông đã được tiếp xúc với những trào lưu mới, từ đó hun đúc nên một tầm tư duy quảng bác, đi trước thời đại. Trong mắt những viên quan bảo thủ, thiển cận đương thời, ông đôi khi bị gièm pha, hiểu lầm là một vị quan "ham đi buôn". Thế nhưng, vượt lên trên mọi định kiến, toàn bộ tâm huyết, hành động và sự nghiệp làm quan của Đặng Huy Trứ thực chất chỉ hướng tới một mục đích duy nhất và cao cả nhất: canh tân đất nước, tự lực tự cường để cứu vãn sinh mệnh của dân tộc.
Bên cạnh sự nghiệp quan trường, di sản lớn nhất của Đặng Huy Trứ chính là những đóng góp toàn diện, mang tính khai mở trên nhiều lĩnh vực cho sự nghiệp canh tân đất nước. Trước hết, ông ghi dấu ấn lịch sử khi là một trong những người có công đầu đưa nhiếp ảnh vào Việt Nam. Vào ngày 14 tháng 3 năm 1869, ông chính thức mở hiệu ảnh Cảm Hiếu Đường tại phố Thanh Hà (Hà Nội), mở ra một góc nhìn mới mẻ về khoa học và nghệ thuật thị giác lúc bấy giờ.
Trên phương diện kinh tế, Đặng Huy Trứ thể hiện tầm nhìn vượt thời đại khi gieo mầm tư tưởng phát triển toàn diện từ khai mỏ, mở mang thủ công nghiệp, thương nghiệp đến nâng cấp giao thông vận tải. Nhận thức rõ vai trò của thương mại trong việc tự cường quốc gia, ông chủ động lập ra các thương điếm như Lạc Sinh Điếm, Lạc Thanh Điếm và trực tiếp điều hành Ty Bình Chuẩn để đẩy mạnh giao thương với phương Tây. Nhờ đó, ông đã tạo dựng nền tảng tài chính vững chắc và hỗ trợ tiềm lực quân sự cho triều đình nhà Nguyễn suốt giai đoạn 1850–1870.
Không dừng lại ở kinh tế, ông còn dốc lòng tiếp thu khoa học quân sự phương Tây và đề xướng tư tưởng chiến tranh nhân dân làm cốt lõi cho mọi chiến lược, chiến thuật bảo vệ Tổ quốc. Năm 1865, trong chuyến sang Hương Cảng khảo sát tình hình, ông đã mang về một cuốn sách kỹ thuật viết về máy hơi nước và tự mình dịch sang tiếng Hán để triều đình nghiên cứu. Đến năm 1867, dù gặp chuyến đi Trung Quốc đầy bất trắc khi lâm bệnh nặng và phải điều trị trong nhà thương suốt 9 tháng ròng giữa cảnh cô độc, không tiền bạc hay người thân, ông vẫn kiên trì thu mua thành công 239 khẩu "quá sơn pháo" cho triều đình. Đồng thời, ông tích cực cổ vũ việc cử người xuất dương học hỏi kỹ nghệ đóng thuyền, chế tác vũ khí hiện đại.
Đặc biệt, Đặng Huy Trứ còn là tấm gương sáng về tinh thần cải cách xã hội và đấu tranh chống tham nhũng. Ngay trên giường bệnh nơi đất khách quê người năm 1867, ông đã dốc hết tâm lực hoàn thành bộ sách Từ thụ yếu quy dài 650 trang gồm 4 tập, nhằm triệt phá thói hối lộ, nhũng nhiễu chốn quan trường. Ông kiên quyết chống lại tư tưởng "trọng văn khinh võ", đề cao việc xây dựng bộ máy công quyền dựa trên các đức tính "cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư".
Tấm lòng nhân ái của ông đối với nhân dân còn thể hiện qua những chính sách an sinh xã hội mang tính tiên phong. Ngay từ năm 1858, khi đang giữ chức Tri huyện Quảng Xương, nhận thấy nhiều người nghèo khổ qua đời không có nơi yên nghỉ, ông đã chủ động thành lập các nghĩa trang cộng đồng để chôn cất và cúng tế chu đáo. Việc làm giàu tính nhân văn này đã đặt nền móng và khởi xướng cho thông lệ lập nghĩa trang nhân dân ở khắp các vùng miền sau này.
Ngày nay, để đền đáp và tri ân những cống hiến hy sinh to lớn của Đặng Huy Trứ đối với công cuộc canh tân đất nước, nhân dân và Nhà nước Việt Nam đã thực hiện nhiều hoạt động tôn vinh sâu sắc, giàu giá trị văn hóa và lịch sử.
Trước hết, di sản của ông được trân trọng gìn giữ và vinh danh qua các công trình công cộng: tên của Đặng Huy Trứ được trang trọng đặt cho nhiều tuyến phố lớn tại Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Huế, Đà Nẵng, cũng như các trường trung học phổ thông chất lượng tại quê hương Thừa Thiên Huế. Tại làng Thanh Lương (xã Hương Xuân, thị xã Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế), nhà thờ và khu mộ của ông đã được xếp hạng là Di tích lịch sử quốc gia, trở thành địa chỉ đỏ giáo dục truyền thống yêu nước cho thế hệ trẻ.
Đặc biệt, trong giới nghệ thuật, giới nhiếp ảnh Việt Nam luôn tôn vinh ông là "Ông tổ của ngành Nhiếp ảnh Việt Nam". Hằng năm, cứ đến ngày 14 tháng 3 (ngày ông khai trương hiệu ảnh Cảm Hiếu Đường), Hội Nghệ sĩ Nhiếp ảnh Việt Nam cùng các nhiếp ảnh gia trên cả nước đều tổ chức dâng hương, dâng hoa tưởng niệm để tri ân người đã mở đường cho nghệ thuật nhiếp ảnh nước nhà. Ngoài ra, các công trình nghiên cứu, hội thảo khoa học, tác phẩm văn học - lịch sử và các bộ phim tài liệu về cuộc đời ông liên tục được thực hiện nhằm khẳng định tầm vóc của một nhà tư tưởng, nhà cải cách lớn.
Việc tri ân Đặng Huy Trứ ngày nay không chỉ đơn thuần là sự ghi nhớ quá khứ, mà còn là sự tiếp nối ngọn lửa tư tưởng, lấy tri thức làm nền tảng, lấy đổi mới làm động lực và lấy lợi ích của nhân dân làm mục tiêu tối cao cho sự phát triển của dân tộc
Con đường canh tân đất nước của Đặng Huy Trứ đành phải dừng lại dở dang khi ông trút hơi thở cuối cùng. Những nỗ lực cải cách đầy tâm huyết của ông đã không có đủ đất sống và cơ hội phát triển trước cơn lốc biến động chính trị cùng họa ngoại xâm dồn dập đổ xuống đất nước vào cuối thế kỷ XIX.
Dẫu vậy, hình ảnh và di sản tư tưởng của Đặng Huy Trứ vẫn tỏa sáng rạng ngời trong dòng chảy lịch sử dân tộc. Khác với nhiều sĩ phu cùng thời chỉ dừng lại ở tấu chương hay lý thuyết suông, Đặng Huy Trứ là một nhà canh tân hành động — dũng cảm dấn thân, lấy dân làm gốc và luôn kiên định với triết lý "công tư lưỡng lợi" (canh tân dựa vào sức dân và phụng sự lợi ích của nhân dân). Trái ngược hoàn toàn với một thể chất ốm yếu, thường xuyên bị bệnh tật dằn dộ, chí khí và nghị lực dấn thân đến tột cùng của ông lại vô cùng phi thường. Đặng Huy Trứ sẽ mãi là tấm gương sáng ngời về trí tuệ vượt thời đại, bản lĩnh kiên cường và lòng yêu nước nồng nã cho các thế hệ mai sau noi theo.


