Đặng Thai Mai – Người thầy lớn của nền giáo dục và văn hóa Việt Nam

Trong lịch sử giáo dục, văn hóa và văn học Việt Nam hiện đại, Giáo sư Đặng Thai Mai là một trong những học giả lớn, một nhà giáo mẫu mực, một trí thức yêu nước và một người đã dành trọn cuộc đời cho sự nghiệp khai sáng, đào tạo con người. Cuộc đời ông là hành trình bền bỉ của học tập, nghiên cứu, giảng dạy và phụng sự Tổ quốc bằng trí tuệ, nhân cách và tình yêu sâu nặng đối với thế hệ trẻ.
Giáo sư Đặng Thai Mai sinh năm 1902, quê ở làng Lương Điền, tổng Bích Hào, nay thuộc xã Thanh Xuân, huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Ông sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước. Cha ông từng tham gia phong trào Duy Tân, bị thực dân Pháp đày ra Côn Đảo; ông nội tham gia phong trào Cần Vương và cũng từng bị tù đày. Chú ông là Đặng Thúc Hứa, cô ông là Đặng Quỳnh Anh đều bôn ba hoạt động cứu nước ở nước ngoài. Chính truyền thống ấy đã hun đúc trong Đặng Thai Mai lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm và tinh thần dấn thân vì dân tộc.
Năm 1928, sau khi tốt nghiệp Cao đẳng Sư phạm Đông Dương tại Hà Nội, Đặng Thai Mai bước vào nghề giáo. Ông được bổ dụng làm giáo sư tại Trường Quốc học Huế, một ngôi trường danh tiếng lúc bấy giờ. Nhưng trong tâm hồn người thầy giáo trẻ ấy không chỉ có tình yêu tri thức, mà còn có nỗi đau trước cảnh nước mất, dân khổ và sự căm phẫn trước chế độ thực dân.
Trong những năm tháng tuổi trẻ, Đặng Thai Mai từng tham gia các phong trào yêu nước như đòi ân xá cho Phan Bội Châu, truy điệu Phan Chu Trinh, hoạt động trong các tổ chức Phục Việt, Hưng Nam, Tân Việt. Ông sớm tiếp xúc với sách báo tiến bộ, với báo “Nhân đạo” của Đảng Cộng sản Pháp, báo “Người cùng khổ” và tác phẩm “Bản án chế độ thực dân Pháp” của Nguyễn Ái Quốc. Những tư tưởng ấy đã góp phần định hình con đường hoạt động yêu nước và cách mạng của ông.
Khi phong trào Xô Viết Nghệ Tĩnh bùng nổ, quê hương Thanh Chương và nhiều vùng đất Nghệ Tĩnh bị thực dân Pháp khủng bố trắng, Đặng Thai Mai không thể đứng ngoài. Ở Huế, ông tham gia phong trào “Cứu tế đỏ”, quyên góp giúp đỡ đồng bào quê hương đang chịu cảnh đàn áp, đói khổ. Chính vì những hoạt động ấy, ông bị mật thám bắt ngay khi đang giảng dạy tại Trường Quốc học Huế. Hình ảnh người thầy bình tĩnh bước lên xe mật thám, chỉ kịp gật đầu chào học trò, đã để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng nhiều thế hệ học sinh.
Sau một năm tù đày, Đặng Thai Mai bị cách chức giáo sư trường công. Từ năm 1932, ông ra Hà Nội dạy học ở các trường tư, ban đầu tại Trường Gia Long, sau đó cùng một số bạn bè lập Trường tư thục Thăng Long. Ngôi trường này với những thầy giáo như Phan Thanh, Hoàng Minh Giám, Võ Nguyên Giáp, Đặng Thai Mai… đã trở thành cái nôi nuôi dưỡng lòng yêu nước, đào tạo nhiều cán bộ, trí thức cho đất nước sau này.
Là một người thầy, Đặng Thai Mai nghiêm khắc nhưng giàu lòng yêu thương học trò. Ông chuẩn bị bài chu đáo, chấm bài kỹ lưỡng, thường xuyên giúp đỡ học sinh nghèo. Trong nhà ông, nhiều học trò nghèo từng được cưu mang, dù gia đình ông khi ấy cũng không dư dả. Học sinh kính trọng ông bởi kiến thức uyên bác, nhân cách mẫu mực và tinh thần trách nhiệm rất cao đối với nghề dạy học.
Một trong những hình ảnh đẹp về Đặng Thai Mai là sự nghiêm cẩn trong từng bài giảng. Khi dạy văn, ông không chỉ truyền đạt kiến thức, mà còn khơi dậy trong học trò lòng yêu nước, tình đồng bào và ý thức trách nhiệm trước xã hội. Những bài học tưởng như văn chương lại chứa đựng thông điệp sâu xa về nhân dân, dân tộc và lẽ sống. Chính vì thế, nhiều học trò sau này vẫn nhớ mãi hình ảnh người thầy nghiêm nghị, sâu sắc, thậm chí rơi nước mắt khi đọc những áng văn thấm đẫm tình yêu quê hương, đất nước.
Giai đoạn Mặt trận Dân chủ Đông Dương, Đặng Thai Mai vừa dạy học, vừa tham gia viết bài cho các báo của Đảng như Tin tức, Lao động, Tập hợp, Tiếng nói chúng ta. Ông cũng được tín nhiệm cử vào Ban trị sự Hội Truyền bá Quốc ngữ ở Bắc Kỳ. Dù tham gia hoạt động báo chí, hội họp, biên tập, đấu tranh công khai rất bận rộn, ông vẫn không sao nhãng công việc của một người thầy. Điều đó cho thấy ở ông sự thống nhất giữa trí thức, nhà giáo và người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng.
Trong những năm Chiến tranh thế giới thứ hai, khi phong trào cách mạng bị đàn áp, Đặng Thai Mai tiếp tục dạy học và viết nghiên cứu trên các tạp chí Tri Tân, Thanh Nghị, Văn Mới. Ông dịch “A.Q chính truyện”, giới thiệu Lỗ Tấn, đưa in cuốn “Văn học khái luận”, một công trình lý luận văn học viết theo quan điểm mác-xít. Việc giới thiệu văn học hiện đại Trung Quốc, đặc biệt là Lỗ Tấn, của ông được xem là có ý nghĩa mở đường, đưa người đọc Việt Nam tiếp cận một vùng tri thức mới.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đặng Thai Mai đảm nhiệm nhiều trọng trách trong ngành giáo dục và văn hóa. Ông từng là Giám đốc Ban Đại học Văn khoa, Bộ trưởng Bộ Giáo dục, Giáo sư phụ trách Ban Sư phạm Văn khoa, Giám đốc Sở Giáo dục Liên khu IV, Hiệu trưởng Trường Dự bị Đại học và Sư phạm cao cấp Liên khu IV, Giám đốc Trường Đại học Sư phạm Văn khoa, Chủ nhiệm Khoa Văn Trường Đại học Tổng hợp và Đại học Sư phạm Hà Nội. Ở cương vị nào, ông cũng tận tụy, mẫu mực và luôn đặt việc đào tạo con người lên hàng đầu.
Giáo sư Đặng Thai Mai gắn bó sâu sắc với lịch sử Trường Đại học Sư phạm Hà Nội ngay từ những ngày đầu. Ông không chỉ là người đặt nền móng cho nhiều cơ sở đào tạo văn khoa, sư phạm, mà còn là người thầy của nhiều thế hệ giáo sư văn học Việt Nam. Có thể nói, nhiều nhà nghiên cứu, nhà giáo, nhà văn hóa lớn của đất nước trong hơn nửa thế kỷ qua đều ít nhiều chịu ảnh hưởng từ học vấn, nhân cách và phương pháp giáo dục của ông.
Điều đặc biệt ở Đặng Thai Mai là tinh thần học tập suốt đời. Ông không ngừng tự học, tự nghiên cứu, kể cả trong những lĩnh vực khó như bạch thoại Trung Quốc, văn học hiện đại Trung Quốc, lịch sử xã hội Trung Quốc. Ông luôn theo kịp cái mới, tìm tòi cái mới, nhưng vẫn giữ một thái độ khoa học nghiêm túc, cẩn trọng và sâu sắc. Đó là phẩm chất quý báu của một học giả lớn.
Đặng Thai Mai dạy học không chỉ bằng kiến thức, mà bằng chính cuộc đời mình. Ông từng nói với học sinh rằng người thầy nên vui lòng cho học trò mượn vai mình làm bậc thang để họ có thể đạt tới trình độ cao hơn thầy. Câu nói ấy thể hiện một quan niệm giáo dục rất đẹp: người thầy chân chính không giữ tri thức cho riêng mình, không sợ học trò vượt mình, mà lấy sự trưởng thành của học trò làm niềm vui và mục tiêu cao nhất.
Chủ tịch Hồ Chí Minh từng giới thiệu Đặng Thai Mai tại kỳ họp thứ nhất Quốc hội khóa I năm 1946 là người đã lâu năm hoạt động trong công việc giáo dục quốc dân và là người mà quốc dân có thể tin tưởng giao phó trọng trách giáo dục. Lời đánh giá ấy là sự ghi nhận cao quý đối với uy tín, tài năng và nhân cách của một nhà giáo lớn.
Giáo sư Đặng Thai Mai được tặng thưởng Huân chương Hồ Chí Minh và Giải thưởng Hồ Chí Minh. Tên ông được đặt cho đường phố tại Hà Nội, như một sự tri ân đối với những đóng góp to lớn của ông cho nền giáo dục, văn hóa và văn học nước nhà.
Đặng Thai Mai là người thầy của nhiều thế hệ, một trí thức yêu nước, một học giả uyên bác và một nhân cách lớn của văn hóa Việt Nam. Cuộc đời ông nhắc nhở chúng ta rằng: giáo dục không chỉ là truyền đạt tri thức, mà còn là gieo mầm nhân cách, khơi dậy lòng yêu nước, nuôi dưỡng lý tưởng và giúp thế hệ sau vươn cao hơn bằng chính đôi vai của người thầy.



