Anh hùng Lực lượng vũ trang

Đặng Thúc Liêng

Ông Đặng Thúc Liêng sinh năm 1867, quê làng Tân Phú, quận Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), sau dời về quê vợ ở làng Tân Quy Đông, tỉnh Sa Đéc (nay là phường Tân Quy Đông, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp).

Đồng Tháp19/03/2026BCH Đoàn Trường Cao Đẳng Y Tê Đồng Tháp (Trường Cao Đẳng Y Tê Đồng Tháp)1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông Đặng Thúc Liêng sinh năm 1867, quê làng Tân Phú, quận Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh), sau dời về quê vợ ở làng Tân Quy Đông, tỉnh Sa Đéc (nay là phường Tân Quy Đông, thành phố Sa Đéc, tỉnh Đồng Tháp).

Ông từng hoạt động yêu nước chung với Trần Chánh Chiếu và Nguyễn An Khương, tham gia lập “Minh Tân công nghệ”, tiệm thuốc bắc “Nam Thọ Xuân” ở Sài Gòn. Vì vậy, tháng 10 năm 1908, khi nhà cầm quyền Pháp dò la được chủ ý trên, liền ra lệnh bắt Trần Chánh Chiếu, Đặng Thúc Liêng và 40 người tình nghi khác giam ở khám đường Mỹ Tho. Trong cảnh tù đày, ông sáng tác bài thơ Chim lồng cá chậu. Sau bốn tháng bị giam cầm, ông được tha nhờ sự can thiệp của hai công chức cao cấp là Landes và Mast (người Pháp cấp tiến, ông đã dạy họ chữ Hán trước đây).

Ra tù, Đặng Thúc Liêng về quê vợ (bà Nguyễn Thị Nhơn) tại làng Tân Quy Đông, tỉnh Sa Đéc, lập tiệm thuốc bắc “Phước Hưng Đông” ở làng Vĩnh Phước (nay là chợ Sa Đéc) và cất một rạp hát nhỏ (khoảng năm 1910), tạo điều kiện cho nghệ thuật hát bội và ca ra bộ, cải lương thời sơ khai phát triển.

Từ năm 1911 đến năm 1944, ông trở lên Sài Gòn viết bài cho nhiều tờ báo, chủ trương tờ Việt dân báo (1931), sáng lập hội Việt Nam Y Dược (1934), cùng Lê Phát Vinh xuất bản tuần báo Đông Phong (khoảng năm 1944), với các hiệu: Trúc Am, Mộng Liêm, Lục Hà Tẩu.

Cuối năm 1944, tình hình chiến tranh thế giới đến hồi khốc liệt, ông rời Sài Gòn về làng Tân Quy Đông, tỉnh Sa Đéc, sống những ngày cuối đời và mất vào ngày 16/8/1945, thọ 78 tuổi.

Trong nhà ông Đặng Thúc Liêng có đôi liễn:

Vạn trùng sơn hải tăng vi khách,

Thập bát phù viên biệt hữu gia.

Thập tam kinh văn tư lạc xứ,

Ngũ đại châu sự thối phiền tâm.

Dịch nghĩa:

Muôn trùng non nước từng làm khách,

Mười tám thôn vườn trầu đầy quê nhà.

Mười ba kinh văn từng học hỏi,

Năm châu thời sự ở trong lòng.

Ông đã viết và xuất bản nhiều sách giá trị:

Tam quyển giải, Tâm bốn mối thương, Quốc văn hồn, Nhân hoà thiên hội, Canh hoang biện pháp, Chúng mạch tân biên, Cao hoàng đế diễn ca, Trương Vĩnh Ký hành trạng, Hán văn thi tập, Việt âm thi tập, Trị y tiện dụng. Ông Đặng Thúc Liêng là một nhà văn tiên phong ở miền Nam, được giới văn học mến yêu, kính trọng. Có thể xem ông là người có công lớn trong thời kỳ chữ Quốc ngữ bắt đầu có mặt trên sinh hoạt văn hoá ở miền Nam vào thế kỷ XIX.

Bài thơ “Tự trào” dưới đây thể hiện cá tính và quan niệm sống của tác giả:

Họ đơn Đặng Thúc Liêng chơi quá lố,

Có hay không? giá ngộ đó mà thôi!

Gẫm bao lâu sống sót trên đời,

Nhìn hoá dại, chơi đi, kéo uống!

Nhưng trách nhiệm chớ nên bỏ luông,

Đức tài trên đem cống hiến nhân dân.

Làm sao càng giữ tinh thần,

Có giải trí, ăn, mặc mới giỏi

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn