Bài viết

Đặng Thúc Liêng – Giữ hồn nước bằng chữ và chí khí

Quảng Ninh25/12/2025Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phường Hà An (Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phường Hà An)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong lịch sử đấu tranh của dân tộc, có những người không cầm gươm ra trận, không nổ súng khởi nghĩa, nhưng lại giữ một vị trí không thể thay thế: giữ cho dân tộc không mất hồn. Đặng Thúc Liêng là một người như thế.

Sinh năm 1867 tại Tân Phú Trung, Hóc Môn – vùng đất giàu truyền thống kháng cự – ông sớm mang trong mình tinh thần bất khuất của Nam Bộ. Từ Đặng Văn Huấn thuở thiếu thời, đến Trúc Am khi mười tám tuổi, rồi Đặng Thúc Liêng ở tuổi ba mươi, mỗi lần đổi tên là một lần tự xác lập lý tưởng sống. Với các biệt hiệu Lục Hà Tẩu, Mộng Liêm, ông bước vào đời như một kẻ sĩ không chịu khuất phục trước thời cuộc nô lệ.

Khi Phan Bội Châu phát động phong trào Đông Du, ngọn lửa Duy Tân nhanh chóng lan tới Nam Kỳ. Đặng Thúc Liêng là một trong những người hưởng ứng sớm nhất. Ông lặn lội vận động thanh niên, quyên góp tài chính, âm thầm góp sức đưa lớp trẻ ra nước ngoài học tập, chuẩn bị cho ngày mai của đất nước. Nhưng con đường ông chọn không chỉ là tổ chức, mà là khai dân trí bằng văn hóa và chữ viết.

Đặng Thúc Liêng hoạt động trên nhiều lĩnh vực hiếm có: báo chí, văn học, thơ ca, phê bình, dịch thuật, sân khấu, y dược. Ở đâu ông cũng mang một tinh thần nhất quán: tự chủ dân tộc. Ông cổ động mạnh mẽ việc học chữ Quốc ngữ, xem đó là công cụ thức tỉnh quần chúng, phá bỏ sự lệ thuộc vào văn hóa ngoại lai và tầng lớp thống trị cũ.

Trên mặt báo, với các bút danh quen thuộc, ông xuất hiện dày đặc trên Nông Cổ Mín Đàm, Lục Tỉnh Tân Văn, Đông Pháp Thời Báo, Phụ Nữ Tân Văn, Thần Chung, Công Luận… Những bài viết của ông không chỉ để đọc, mà để đánh thức. Bài xã luận nổi tiếng “Quốc văn hồn” là lời tuyên ngôn đanh thép: dân tộc mất chữ, mất văn hóa, thì dù còn người cũng như đã mất nước.

Từ người viết báo, Đặng Thúc Liêng trở thành người chủ trương báo chí. Năm 1933, ông sáng lập và làm chủ bút báo Việt Dân, công khai công kích bọn tay sai thân Pháp và đảng Lập hiến. Tờ báo bị đóng cửa năm 1938, nhưng tinh thần của nó thì không thể bị dập tắt. Ông chuyển sang phụ trách Tạp chí Văn học Đông Phương, tiếp tục giữ trận địa văn hóa trong hoàn cảnh ngặt nghèo.

Trong văn học, ông để lại một gia tài đồ sộ: từ Quốc văn hồn, các tập thơ Hán – Việt, đến những tác phẩm lịch sử, giáo dục, nông học, tôn giáo. Thơ của ông không nhằm tô điểm câu chữ, mà để hun đúc chí khí. Ông từng khẳng định: thi ca phải tỏ chí khí và ý thức, không thể chỉ là trò tiêu khiển. Chính quan niệm ấy khiến thơ ông trở thành tiếng nói của phong trào canh tân, cổ vũ đổi mới đất nước.

Không dừng lại ở trang giấy, Đặng Thúc Liêng còn đưa tinh thần yêu nước lên sân khấu. Tuồng “Trưng Nữ Vương” do ông biên soạn đã phục hồi hào khí chống ngoại xâm, làm sống lại hình tượng Hai Bà Trưng trong lòng quần chúng. Với ông, sân khấu cũng là một chiến trường.

Chủ trương “Người Nam dùng thuốc Nam”, năm 1934 ông sáng lập Việt Nam Y Dược Hội, gắn y học với tinh thần tự cường. Ông cũng là một nhà từ thiện lớn: năm 1926, khi Bắc Kỳ vỡ đê, lụt lội, ông đi khắp nơi diễn thuyết Quốc văn hồn, kêu gọi cứu trợ đồng bào trong cơn hoạn nạn.

Đặng Thúc Liêng đã sống trọn đời như một người giữ lửa văn hóa. Trong thời hoa lửa của dân tộc, ông chọn đứng ở nơi âm thầm nhưng quyết định: giữ cho dân tộc còn tiếng nói của mình, chữ viết của mình, và lòng tự trọng của mình.

Không có bia đá khắc chiến công, nhưng mỗi trang báo, mỗi vần thơ, mỗi chữ Quốc ngữ lan truyền trong dân gian đều mang dấu ấn của ông. Đó là chiến công bền bỉ nhất, lâu dài nhất – chiến công giữ hồn nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn