Đặng Thùy Trâm - Ngọn lửa tuổi hai mươi
Đặng Thùy Trâm là một nữ bác sĩ Việt Nam, sinh ngày 26/11/1942 tại Huế và lớn lên trong một gia đình trí thức ở Hà Nội. Cha chị là bác sĩ Đặng Ngọc Khuê, mẹ là dược sĩ Doãn Ngọc Trâm. Sinh ra trong một gia đình có truyền thống ngành y, Đặng Thùy Trâm cũng lựa chọn trở thành bác sĩ và theo đuổi công việc chữa bệnh, cứu người. Sau khi tốt nghiệp Đại học Y khoa Hà Nội năm 1966, thay vì chọn một cuộc sống ổn định ở Hà Nội. Đặng Thùy Trâm tình nguyện vào chiến trường miền Nam và công tác tại Quảng Ngãi, phụ trách một bệnh viện huyện ở Đức Phổ, nơi chủ yếu điều trị cho thương bệnh binh. Trong những năm tháng ở chiến trường, Đặng Thùy Trâm vừa làm nhiệm vụ của một người thầy thuốc, vừa ghi lại những suy nghĩ, tình cảm và những gì mình chứng kiến trong hai cuốn nhật ký. Những trang viết ấy sau này trở thành một tư liệu đặc biệt về cuộc sống của một thế hệ thanh niên Việt Nam trong chiến tranh. Tháng 6/1970, Đặng Thùy Trâm hy sinh khi đang trên đường công tác. Hai cuốn nhật ký của chị được một người lính Mỹ là Frederic Whitehurst giữ lại thay vì để chúng bị tiêu hủy. Sau khoảng 35 năm, những cuốn nhật ký được trao trả cho gia đình và được xuất bản, trở thành một tác phẩm được nhiều độc giả biết đến.

Bác sĩ Đặng Thùy Trâm sinh ra tại Huế nhưng lớn lên tại Hà Nội trong một gia đình tri thức. Cha chị là bác sĩ Đặng Ngọc Khuê và mẹ là dược sĩ Doãn Ngọc Trâm. Chị sống và trưởng thành trong một giai đoạn đất nước có chiến tranh. Đặng Thùy Trâm là chị cả, dưới còn bae m gái và một em trai, cả chị và ba người em đều mang tên giống mẹ và chỉ khác nhau tên đệm (Đặng Phương Trâm, Đặng Hiền Trâm, Đặng Kim Trâm), cho nên bạn bè và người than đều gọi Thùy Trâm là “Thùy” để phân biệt. Chị từng là học sinh của Trường Chu Văn An, Hà Nội và là giọng ca xuất sắc của trường Chu Văn An và Đại học Y Hà Nội. Bằng các ca khúc Bài ca hy vọng (của Văn Kỳ), Cây thùy dương (ca khúc Nga), Sullico…, chị đã đoạt hàng chục huy chương trong các cuộc đua tài văn văn nghệ quần chúng thủ đô. Bên cạnh việc say mê học tập, luôn giúp đỡ bạn bè gặp khó khan, Thùy Trâm còn tích cực tham gia câu lạc bộ thơ văn cùng khóa của trường Chu Văn An, gồm có các thành viên sau này trở thành các nhà văn, nhà thơ như Nguyễn Khoa Điềm, Vương Trí Nhàn…Chị và các anh bạn cùng lớp Lê Văn Kiếm, Hoàng Ngọc Kim, Dương Đức Niệm kết thành nhóm phấn đấu vào Đảng. Nối nghiệp gia đình, Thùy Trâm thi đỗ vào Đại học Y Khoa Hà Nội chuyên khoa mắt và được nhà trường cho tốt nghiệp sớm một năm để đi chiến trường. Với kết quả học tập, thi tốt nghiệp loại ưu, bác sĩ trẻ Thùy Trâm có thể, hoặc nhận lời ở lại trường làm cán bộ giảng dạy hoặc cơ quan nào đó ở ngay Hà Nội vì bố mẹ đều là cán bộ có uy tín, có nhiều quan hệ trong ngành Y tế. Nhưng vì có người yêu vào chiến trường trước mấy năm nên sau khi tốt nghiệp chị xung phong vào Nam ngay. Năm 1966, Thùy Trâm xung phong vào công tác ở chiến trường. Khương Thế Hưng gặp chị khi trong mình đã có hàng chục vết thương. Trong một lá thư ngày 15 tháng 2 năm 1968, gửi cho bạn là Dương Đức Niệm, Thùy viết về M ( là chữ đầu của chữ Mộc. Nguyên Mộc tức là Đỗ Mộc, là bút danh của Khương Thế Hưng ở chiến trường) : “ anh bây giờ sống thật đơn giản, anh không mơ gì hơn là diệt được thật nhiều giặc Mỹ, anh không cần gì cho bản thân, kể cả tình yêu và sự nghiệp. Đối với Thùy, anh thương với tình thương rất đỗi chân thành, anh tôn trọng và cảm phục trước tình yêu thủy chung của Thùy, nhưng chỉ có thế thôi. Con tim anh không còn những rung cảm sâu xa, những vần thơ thắm đượm tình yêu, những lời ca bay bổng ước mơ nữa rồi”. Sau 3 tháng hành quân từ miền Bắc, tháng 3 năm 1967, Đặng Thùy Trâm vào đến chiến trường Quảng Ngãi và được phân công phụ trách bệnh viện huyện Đức Phổ, một bệnh xá dân sự nhưng chủ yếu điều trị cho các thương bệnh binh. Chị được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam ngày 27 tháng 9 năm 1968. Công việc ở đây khác xa môi trường học tập và bệnh viện mà chị từng biết. Người bác sĩ chiến trường phải làm việc trong điều kiện thiếu thốn về thuốc men, dụng cụ y tế và cơ sở vật chất, đồng thời luôn phải đối mặt với tình trạng chiến sự. Những trải nghiệm trong thời gian công tác được chị ghi lại trong nhật ký. Bệnh xá nơi chị công tác nhiều lần phải thay đổi địa điểm để tránh các cuộc đánh phá. Theo tư liệu được công bố, ngày 28/4/1969, khu vực bệnh xá Đức Phổ bị đánh phá ác liệt, Đặng Thùy Trâm cùng đồng đội đã chuyển bệnh xá đến địa điểm mới ở Hố Bầu Tây, thuộc thôn Nước Đang, xã Ba Trang, huyện Ba Tơ. Trong hoàn cảnh ấy, nhiệm vụ của Đặng Thùy Trâm không đơn giản chỉ là chữa bệnh. Chị phải cùng đồng đội chăm sóc thương binh, người bệnh và người dân địa phương trong điều kiện chiến tranh. Chính cuộc sống ấy đã trở thành chất liệu cho những trang nhật ký của chị. Ngày 22 tháng 6 năm 1970, trong một chuyến công tác từ vùng núi Ba Tơ về đồng bằng, Đặng Thùy Trâm bị địch phục kích và hy sinh khi chưa đầy 28 tuổi, 2 tuổi Đảng và 3 năm tuổi nghề. Hài cốt của chị được nhân dân địa phương mai tang tại nơi hy sinh và luôn hương khói. Sau chiến tranh, mộ của chị được đồng đội đưa về Nghĩa trang liệt sĩ xã Phổ Cường. Năm 1990, gia đình đã đưa hài cốt chị về Nghĩa trang liệt sĩ Nhổn (NTLS TP. Hà Nội), Từ Liêm, Hà Nội (nay là phường Tây Tựu, Hà Nội). Hai cuốn nhật ký của Đặng Thùy Trâm không chỉ ghi lại công việc ở chiến trường mà còn thể hiện những suy nghĩ, tình cảm và những trăn trở của một nữ bác sĩ trẻ. Không chỉ là những điều lớn lao được ghi lại mà còn là những cảm xúc rất đời thường: nhớ gia đình, nhớ người thân, tình cảm với đồng đội, những lúc buồn, lúc vui và cả những suy nghĩ về tương lai. Vì vậy, đây là nguồn tư liệu trực tiếp giúp người đọc hiểu hơn về đời sống tinh thần của một người trẻ trong chiến tranh. Sau khi chị hy sinh, hai cuốn nhật ký rơi vào tay quân đội Mỹ. Người đã giữ lại những cuốn nhật ký là Frederic Whitehurst, một sĩ quan tình báo Mỹ từng có mặt tại chiến trường Quảng Ngãi. Theo các tài liệu được công bố, ban đầu Whitehurst định đốt những cuốn nhật ký. Tuy nhiên, người phiên dịch Nguyễn Trung Hiếu đã ngăn ông lại và nói một câu nổi tiếng: “Đừng đốt, trong đó đã có lửa”. Sau đó, Whitehurst giữ những cuốn nhật ký bên mình và mang chúng trở về Mỹ. Điều đặc biệt là ông không biết người viết những cuốn nhật ký là ai. Năm 2005, sau khoảng 35 năm lưu lạc, câu chuyện về hai cuốn nhật ký bắt đầu trở lại Việt Nam. Frederic Whitehurst đã tìm cách trao trả những cuốn nhật ký mà ông từng giữ lại. Thông qua quá trình tìm kiếm và xác minh, những người liên quan đã xác định được gia đình của bác sĩ Đặng Thùy Trâm. Ngày 25/4/2005, bản sao của những trang nhật ký được trao cho gia đình. Sau đó, nhật ký được xuất bản với tên “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”, giúp câu chuyện về nữ bác sĩ trẻ đến với đông đảo độc giả. Sự đặc biệt của câu chuyện là những trang nhật ký được chính Đặng Thùy Trâm viết trong thời gian chiến tranh. Vì vậy, chúng không chỉ là một tác phẩm văn học mà còn là nguồn tư liệu giúp thế hệ sau tìm hiểu về cuộc sống, suy nghĩ và hoàn cảnh của những người trẻ ở chiến trường thời kỳ đó.


