Đặng Thùy Trâm – Nhành cúc dại trắng trong giữa lòng đại ngàn đỏ lửa”
Có những loài hoa không chọn cho mình mảnh đất phù sa màu mỡ để tỏa hương, mà lại chọn nảy mầm giữa sỏi đá và đạn bom. Giữa đại ngàn Trường Sơn nghi ngút máu lửa, mùi của máu trộn lẫn với khói thuốc bom đạn, nơi mà ranh giới giữa sự sống và cái chết mong manh như một làn khói, có một nhành cúc dại vẫn thầm lặng tỏa hương sắc của lòng nhân ái và lý tưởng cao đẹp. Nhành cúc ấy mang tên một người con gái Hà Nội, một người bác sĩ đã gửi lại thanh xuân của mình cho rừng già để đổi lấy màu xanh cho đất nước: Đặng Thùy Trâm.
Bác sĩ Đặng Thùy Trâm sinh ngày 26 tháng 11 năm 1942 tại mảnh đất Huế đầy thân thương. Tuy sinh ra ở Huế nhưng chị lớn lên tại Hà Nội và sống trong một gia đình giàu tri thức. Chị lớn lên trong tình yêu thương của cha mẹ và lý tưởng cứu người. Năm 1966 sau khi tốt nghiệp Trường Đại Học Y Khoa Hà Nội khi trước mắt là một tương lai bình yên nơi phố thị thì chị đã chọn xung phong vào chiến trường miền Nam công tác tại Quảng Ngãi, nơi bom đạn luôn giăng kín bầu trời. Giữa những năm tháng thanh xuân đẹp nhất của người con gái Hà Thành, khi giảng đường và ánh đèn thủ đô vẫn đang dang tay chào đón, Đặng Thùy Trâm đã chọn cho mình một lối đi riêng – lối đi hướng về phía miền Nam ruột thịt. Đó không phải là một quyết định nhất thời, mà là tiếng gọi từ sâu thẳm tâm hồn của một người trí thức trẻ. Tình yêu Tổ quốc trong chị không nằm ở những khẩu hiệu lớn lao, mà kết tinh thành một ý chí sắt đá: khi đất nước còn chia cắt, khi đồng bào còn trong máu lửa, thì khoác lên mình màu áo trắng bác sĩ cũng chính là khoác lên mình trách nhiệm của một chiến sĩ. Chị vào Nam, mang theo hơi ấm của Hồ Tây, của những nhành cúc họa mi, để sưởi ấm cho những thương binh giữa rừng già Đức Phổ. Tại Đức Phổ, chị làm việc trong điều kiện vô cùng thiếu thốn, cơ sở vật chất nghèo nàn, thuốc thang khan hiếm, bom đạn có thể ập xuống bất cứ lúc nào nhưng số lượng chiến sĩ bị thương sau mỗi trận chiến vẫn không hề thuyên giảm. Nhưng giữa sự khắc nghiệt của mưa bom đạn nổ thì người con gái ấy không chỉ chữa lành những vết thương đang rỉ máu trước mắt của các chiến sĩ mà còn nâng đỡ tâm hồn cho họ. Ở chị, ta thấy một sự giao thoa kỳ lạ: một ý chí đúc bằng thép và một trái tim dệt bằng lụa. Mạnh mẽ khi quyết tâm xung phong vào chiến trường miền Nam, khi đối diện với họng súng quân thù, quyết đoán khi giành giật sự sống cho đồng đội trên bàn mổ. Nhưng lại vô cùng mềm mại khi rơi nước mắt trước một nhành hoa rừng, hay khi gửi gắm nỗi nhớ Hà Nội vào những dòng nhật ký ướt đẫm hơi sương. Chị cũng như bao người con gái khác, cũng nhớ nhà, nhớ gia đình và nhớ bố mẹ nơi quê nhà thân thương.
“19.5.70
Địch càn lên súng nổ rần rần con vẫn cười, bình tĩnh ra công sự. Địch tập kích vào căn cứ, vừa chạy địch có đêm phải ngủ rừng con cũng vẫn cười, nụ cười vẫn nở ngay cả khi tàu rọ và HU-1A quăng rocket xuống ngay trên đầu mình…
Vậy mà khi nghĩ đến gia đình, đến những người thân yêu trên cả hai miền, lòng con xao xuyến xót xa và cũng có những lúc những giọt nước mắt thấm mặn yêu thương chảy tràn trên đôi mắt của con.” – Nhật ký Đặng Thùy Trâm.
Sau mỗi trận càn quét dữ dội, khi bóng tối của đạn bom vừa lùi xa để lại loang lổ những vết thương, người nữ bác sĩ ấy lại lặng lẽ bước vào một cuộc chiến khác – cuộc chiến giành giật sự sống từ tay tử thần. Chị nâng niu những hình hài rách nát bằng đôi bàn tay gầy nhưng vững chãi, rồi đem tất cả nỗi đau xé lòng của đồng đội gửi gắm vào từng dòng nhật ký. Qua lăng kính đầy nhân hậu của chị, chiến tranh hiện ra trần trụi và khốc liệt đến nao lòng, cái giá của hòa bình được tái hiện trên trang giấy ố vàng.
"5.6.69
Địch triển khai thêm, không thể ở đó được nữa, đêm nay đa số cán bộ và thương binh dẫn nhau chạy xuống Phổ Cường. Tối không trông rõ mặt người nhưng có lẽ ai cũng cảm thấy rất đầy đủ những nét đau buồn trên khuôn mặt từng cán bộ và thương binh. Mình lo đi liên hệ giải quyết công tác đến khuya mới về, thương binh đã đi ăn cơm xong, nằm ngổn ngang trên thềm nhà Đáng, một vài người đã ngủ, số còn lại khẽ rên vì vết thương đau nhức. Còn lại trên đó ba cas cố định chưa có người khiêng, một số cán bộ lãnh đạo còn trên đó, mình cần trở về. Trở về lúc này thật gay go, không hiểu địch nằm ở đâu. Nhưng biết làm sao, yêu cầu công tác đòi hỏi mình phải trở về, dù chết cũng phải đi…” – Nhật ký Đặng Thùy Trâm.
Ngày 22 tháng 6 năm 1970 trên đường đi công tác chị đã hy sinh khi chỉ mới 27 tuổi. Người con gái ấy đã dâng hiến trọn đời mình cho lý tưởng cách mạng, cho tình yêu Tổ quốc nhưng đằng sau sự rực rỡ, huy hoàng ấy là một nỗi buồn sâu thẳm vì không thể có cơ hội gặp lại người thân.
“ Con cũng là một trong muôn nghìn người đó, con sống chiến đấu và nghĩ rằng mình sẽ ngã xuống vì ngày mai của dân tộc.
Ngày mai trong tiếng ca khải hoàn sẽ không có con đâu. Con tự hào vì đã dâng trọn đời mình cho Tổ quốc. Dĩ nhiên con cũng cay đắng vì không được sống tiếp cuộc sống hòa bình hạnh phúc mà mọi người trong đó có con đã đổ xương máu để giành lại. Nhưng có gì đâu, hàng triệu người như con đã ngã xuống mà chưa được hưởng trọn lấy một ngày hạnh phúc. Cho nên có ân hận gì đâu!” – Nhật ký Đặng Thùy Trâm.
Chị ra đi khi mái tóc còn xanh, khi những ước mơ về một ngày hòa bình vẫn còn dang dở trên trang giấy ố vàng. Nhưng sự hy sinh ấy không phải là tàn lụi, mà là sự hòa tan vào đất đá, vào cỏ cây đại ngàn. Nhành cúc dại ấy đã khép lại cánh hoa của mình để nhường chỗ cho hàng vạn mầm xanh khác được vươn lên dưới bầu trời tự do. Chị không mất đi, chị chỉ đang ngủ một giấc dài trong vòng tay ôm ấp của núi rừng Đức Phổ. Sau chiến tranh cuốn nhật ký Đặng Thùy Trâm được một cựu binh Mỹ giữ lại suốt 35 năm và trao trả cho gia đình. Khi được xuất bản năm 2005 những trang viết đã để lại dư âm khắc khoải trong lòng người đọc. Trên từng trang giấy ố vàng theo màu của thời gian không chỉ có lý tưởng cách mạng mà còn có sự cô đơn, nước mắt, hy vọng, tự nhủ để có thể đứng vững.
Chiến tranh đã lùi xa, những vết thương trên thân thể đại ngàn cũng đã xanh màu lá mới, nhưng hương thơm từ nhành cúc dại Đặng Thùy Trâm thì vẫn còn mãi tỏa ngát giữa lòng dân tộc. Chị đã ngã xuống ở tuổi hai mươi bảy, để lại một thanh xuân vĩnh cửu trên những trang nhật ký rực lửa. Sự ra đi của chị không phải là dấu chấm hết, mà là một sự hóa thân vào hồn thiêng sông núi, nhắc nhở chúng ta rằng: cái đẹp và lòng nhân ái sẽ luôn chiến thắng mọi sự hủy diệt. Nhành cúc ấy vẫn nở, vẫn trắng trong và kiên cường, như một lời hẹn ước của tình yêu và hòa bình dành cho những thế hệ mai sau.


