Đặng Thùy Trâm - Những trang nhật ký cuối cùng của một người con gái Hà Nội
Nhật ký của một nữ bác sĩ trẻ giữa chiến trường Đức Phổ - nơi tình yêu con người, nỗi cô đơn, niềm tin và cái chết đan xen trong từng trang viết, và số phận kỳ lạ đưa cuốn sổ ấy đi vòng quanh 35 năm trước khi trở về với người mẹ.

Một trái tim giàu yêu thương giữa gian khổ
Trong những trang nhật ký viết năm 1968, người đọc gặp một Đặng Thùy Trâm không chỉ là bác sĩ mà còn là một cô gái trẻ đầy tâm trạng. Chị day dứt vì việc kết nạp Đảng bị trì hoãn nhiều tháng liền, dù toàn bộ chi bộ và cán bộ trong huyện, trong tỉnh đều đã lên tiếng ủng hộ chị - chị tự hỏi tại sao mọi người xung quanh thương mến, cảm phục mình đến vậy mà tổ chức lại có phần khắt khe. Những đêm u uất ấy, chị tự động viên bản thân bằng chính niềm tin mà sau này trở thành câu nói được nhắc đến nhiều nhất trong cuốn nhật ký: "đời phải qua giông tố nhưng chớ có cúi đầu trước giông tố".
Song song với nỗi buồn ấy là một trái tim tràn đầy tình thương. Chị kể về mối quan hệ đặc biệt với người mang tên M. - một tình cảm sâu đậm nhưng dang dở, nhuốm màu linh cảm chia ly: chị viết rằng dù không thuộc về nhau, chị vẫn muốn dùng yêu thương xoa dịu những đau đớn của M., và có một cảm giác mơ hồ rằng lần chia tay ấy sẽ là lần cuối. Với San, một đồng đội nhỏ tuổi hơn nhưng luôn gọi chị là "chị", hai người từng tranh luận vui về việc nếu phải chết thì ai nên sống - chị nhường phần sống cho San vì thương cậu là con trai duy nhất của một người mẹ góa, còn San thì nhất quyết bảo chị phải sống để về với miền Bắc. Cuộc trò chuyện tưởng như đùa ấy lại cho thấy tình đồng đội sâu sắc giữa lằn ranh sinh tử.
Cái chết luôn cận kề và đến bất ngờ: chị ghi lại việc hai người bạn là Thìn và anh Sơn, chỉ tối hôm trước còn ngồi trò chuyện, dặn dò nhau mua vải may áo, thì đêm sau đã nằm lại vĩnh viễn dưới đất Đức Phổ. Giữa những mất mát dồn dập ấy, chị chọn cách sống hết mình với tình thương - bệnh nhân trong bệnh xá gọi chị bằng hai tiếng "Chị Hai" thân thương, xưng em dù lớn tuổi hơn chị, và chính tình cảm ấm áp đó trở thành nguồn an ủi giữa chiến trường khốc liệt.
Hai tuần cuối cùng - những trang viết trước ngày 22/6/1970
Càng gần tới những ngày cuối tháng 6/1970, nhật ký càng trở nên dồn dập và day dứt.
Đầu tháng 6, sau khi nhận được một lá thư ngắn ngủi của mẹ - lá thư cố giấu nỗi lo lắng nhưng không giấu nổi - chị viết rằng chị hiểu lòng mẹ đau xót thế nào khi biết con gái vẫn còn lăn mình trong khói lửa, dù những lá thư chị gửi về chưa bao giờ kể hết một phần vạn sự gian khổ thực sự. Chị tự nhủ, nếu có phải ngã xuống vì ngày mai chiến thắng, thì mong mẹ đừng khóc nhiều mà hãy tự hào vì con đã sống xứng đáng.
Ngày 12/6, chị viết về một nỗi mong đợi tha thiết trong lòng: mong người về tiếp viện cho bệnh xá, mong thư nhà, và trên hết là mong hòa bình để được trở về sống trọn trong lòng mẹ. Chị thú nhận những đêm gần đây tâm trí luôn nặng trĩu nhớ thương, đêm nào cũng mơ về miền Bắc.
Ngày 14/6, giữa cảnh bệnh xá vừa hứng chịu một trận bom cách chỗ ở chưa đầy hai mươi mét - làm nát tan mái nylon và cột nhà nhưng may mắn không ai bị thương - chị để tâm trí trôi về một giấc mơ ban ngày: căn nhà yên bình ở Hà Nội, lọ hoa hướng dương mới thay buổi sáng, chiếc radio phát bản nhạc quen thuộc, tiếng bạn bè cười nói. Rồi chị chợt tỉnh, nhận ra đó chỉ là một giấc mơ giữa ban ngày, không phải trong giấc ngủ. Đêm hôm trước, mưa trút xuống như thác, cả nhà ngập nước, mấy thương binh ngồi co ro ướt sũng - cảnh tượng khiến chị vừa cười vừa rưng rưng nước mắt khi chị Lãnh hỏi có ai biết đến cảnh này không. Một đồng đội khác, anh Đạt, cũng nửa đùa nửa thật nói rằng nếu hòa bình lập lại, phải chiếu cố nhiều đến những người từng trải qua cảnh này - chị đáp lại rằng mình chẳng cần được chiếu cố gì, chỉ mong hòa bình để được về với mẹ, thế là đủ.
Ngày 16/6, đọc nhật ký của một cậu học sinh trẻ tên Bổi quê Hà Tây, chị thấy tâm sự của cậu cũng chính là tâm sự của mình - những ngày căng thẳng tột độ khi bệnh xá liên tục bị máy bay địch uy hiếp. Chị ở lại cùng thương binh dù người chính trị viên của bệnh xá đã từ chối ở lại trong tình huống nguy hiểm ấy.
Ngày 17/6, chỉ còn ba chị em gái ở lại cùng năm thương binh nặng. Một cậu bé thương binh mười chín tuổi tên Niên - người vừa bị gãy chân do cây gỗ đè trúng đúng vết mổ khi bom giội xuống hầm - đã nói với các chị bằng giọng rất chân thành rằng nếu giặc đến cứ chạy đi, còn các em ở lại quyết một mất một còn. Chị lo lắng khôn nguôi cho vết thương của Niên, sợ rằng nếu địch ập đến, em sẽ không qua khỏi.
Ngày 18/6, giữa buổi chiều rừng im lặng đến rợn người sau khi máy bay ngừng gào rú, chị ngồi cùng đồng đội theo dõi phát hiện địch suốt cả ngày, nhưng tâm trí lại trôi về viễn cảnh ngày đoàn tụ - chị tự nhủ khi trở về sẽ biết trân quý từng giây phút hòa bình, bởi chỉ có sống giữa chiến trường mới hiểu hết giá trị của cuộc sống đã đánh đổi bằng bao xương máu tuổi trẻ.
Ngày 20/6 - trang nhật ký cuối cùng - chị viết về gần mười ngày chờ đợi mòn mỏi những người ra đi hẹn quay lại đón nhóm mình khỏi vùng nguy hiểm mà không thấy ai trở về. Gạo chỉ còn đủ một bữa chiều, không thể để thương binh đói, nhưng đường đi lại đầy hiểm nguy. Cuối cùng hai người trong nhóm là chị Lãnh và Xăng quyết định lên đường tìm tiếp tế, chị đứng nhìn theo bóng hai người lội qua dòng suối chảy xiết mà nước mắt tự nhiên trào ra. Chị thấy mình thèm khát đến vô cùng một bàn tay chăm sóc như của mẹ, dù chỉ là bàn tay của một người thân, hay thậm chí một người quen, để được truyền thêm sức mạnh vượt qua chặng đường gian khổ phía trước.
Nhật ký dừng lại ở đó. Hai ngày sau, ngày 22/6/1970, trong một chuyến công tác từ vùng núi Ba Tơ về đồng bằng, chị bị địch phục kích và hy sinh khi chưa đầy 28 tuổi đời. Nhiều tháng sau gia đình mới nhận được tin dữ; đồng đội kể lại rằng chị đã ở lại yểm trợ cho mọi người rút lui trước khi ngã xuống. Một vết đạn sâu giữa trán là điều duy nhất người thân được tận mắt chứng kiến khi lên Ba Tơ đưa hài cốt chị về.
Hành trình 35 năm trở về
Cuốn sổ tay ấy suýt bị thiêu hủy trong đống tài liệu chiến lợi phẩm, nếu không có một thông dịch viên tên Nguyễn Trung Hiếu ngăn sĩ quan quân báo Mỹ Frederic Whitehurst lại, vì nhận ra giá trị đặc biệt của những trang viết. Fred giữ cuốn nhật ký suốt 35 năm như một nỗi ám ảnh không nguôi, cho đến khi một hội thảo về chiến tranh Việt Nam tại Đại học Texas năm 2005 đưa câu chuyện đến tai Ted Engelmann - người đã sang tận Hà Nội, lần theo từng manh mối nhỏ để tìm ra gia đình bác sĩ Đặng Ngọc Khuê. Đúng dịp kỷ niệm 30 năm giải phóng miền Nam, hai cuốn nhật ký đã về đến tay người mẹ.
Sau khi xuất bản năm 2005, cuốn sách đã chạm đến nhiều thế hệ độc giả. Một bài cảm nhận trên VnExpress từng gọi đây là tấm gương soi lòng người, nơi chiến tranh hiện lên không chỉ qua sự hy sinh mà còn qua những khát vọng sống chưa kịp trọn vẹn.


