Khác

ĐẶNG TIẾN LỢI VÀ TRẬN ĐÁNH CẦU THỦY TÚ

Trên dòng sông Thủy Tú ở phía bắc Đà Nẵng, cầu đường bộ và cầu đường sắt là mắt xích quan trọng của tuyến Đà Nẵng – Huế. Trong những năm 1971–1972, Tiểu đoàn Đặc công nước 471 nhiều lần nhận nhiệm vụ đánh phá cây cầu này. Một trong những câu chuyện bi tráng nhất gắn với Anh hùng, liệt sĩ Đặng Tiến Lợi, người đã hy sinh khi thực hiện nhiệm vụ đánh cầu Thủy Tú. Các nguồn tư liệu có những điểm khác nhau về từng lần đánh và thời điểm cụ thể, vì vậy câu chuyện dưới đây tách rõ những dữ kiện đã được xác nhận, không ghép các trận thành một sự kiện duy nhất

Đà Nẵng13/08/2026Xã Lam Sơn (Xã Lam Sơn)4 lượt xem0 lượt chia sẻ

Thời kỳ lịch sử: 1971–1972 – chiến trường Quảng Đà trong kháng chiến chống Mỹ.


PHẦN I – CÂY CẦU TRÊN TUYẾN ĐƯỜNG RA HUẾ

Trong chiến tranh, có những địa điểm nhìn trên bản đồ tưởng như rất nhỏ nhưng lại mang ý nghĩa lớn.

Thủy Tú là một nơi như vậy.

Cầu Thủy Tú gồm cầu đường bộ và cầu đường sắt chạy song song, nằm trên Quốc lộ 1 và tuyến đường sắt Đà Nẵng – Huế.

Theo tư liệu của Báo Đà Nẵng, đây là tuyến giao thông huyết mạch được sử dụng để vận chuyển lực lượng, vũ khí, đạn dược, thuốc men và nhu yếu phẩm phục vụ chiến trường Trị - Thiên. Vì vậy, đối phương tổ chức bảo vệ rất chặt khu vực này.

Với lực lượng đặc công nước 471, cây cầu trở thành một mục tiêu đặc biệt khó khăn.

Không thể chỉ tiếp cận từ trên bờ.

Không thể dùng một lực lượng đông.

Càng không thể để đối phương phát hiện từ trước.

Những người lính phải tiếp cận từ dưới nước.

Họ phải biết từng vị trí của chân cầu.

Phải hiểu dòng nước.

Phải tính toán đường vào và đường rút.

Và phải đưa được khối thuốc nổ đến đúng nơi cần thiết.

Tiểu đoàn Đặc công nước 471 được thành lập ngày 25-2-1971, trực thuộc Mặt trận 44 Quảng Đà. Trong những năm chiến đấu, đơn vị thực hiện 41 trận, trong đó có 29 trận đánh dưới nước.

Cầu Thủy Tú vì thế không phải một mục tiêu ngẫu nhiên.

Nó nằm ngay trong khu vực tác chiến của một đơn vị được tổ chức để đánh những mục tiêu trên sông, trên biển và trong hệ thống giao thông của đối phương.

Và rồi, những người lính 471 bắt đầu chuẩn bị.

Ảnh thật tư liệu cuối phần

https://images.openai.com/static-rsc-4/w2XayfZaqdDyHZNFqQu5Kkym4M4sb7Sk6h3EuG1Nc1AAoSIKuMRXrrl8vwdK2MsYixlvJanJ-03nTNy-HSgZLyf7wTic3gO3FsLMwWgByibEs8dzI3Cd31FBEYPqC0vggUc7kAUVECccXPskY1w0QH4Y8qQTkpt9XLstfJCfiQBAhn6FOLJRUq_N_3hiKcWf?purpose=fullsizehttps://images.openai.com/static-rsc-4/WYqoHKe0T8QgctwzrfEOUTMA0Bjp55oQRCM9kt-IQ5LYcF6Ceu1e5HFQKSIJ07__4QSdJOFQbPx2Jv-bemzn8aNfGqMZoS0L7A3D-7e75BPJhQJz6xoniomlLkj7cRBGJdtx3HzWBQ8AA9sC9vCvuBA6JzbfKufXyRHl4Wd44j0ap0krnKOUw3zJlqqzDkA0?purpose=fullsizehttps://images.openai.com/static-rsc-4/lv67tMg3VY1ur6Qebif4D9sGwxgxuZKgy3UXqg9tmCDrv-5jbn26ZpTFCLAJ9pHmwJZBPwsG3AjOXoAfnvo-PET5q6hKU-vkWgf5Tv2MmAZ4yqEJ3yKem1ldRnmJTg2EHXqzONZNPNwlqxphQMSbBn41rQQIJK8LwydUyZ9IDNUrY2KKbz75r_aZU2M2yksI?purpose=fullsize

Chú thích: Ảnh thật tư liệu về cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn Đặc công nước 471 và nhân vật Đặng Tiến Lợi được các nguồn báo chí lưu giữ. Báo Quân đội nhân dân xác nhận Đặng Tiến Lợi là liệt sĩ được tuyên dương Anh hùng LLVT nhân dân.

Nguồn: Báo Quân đội nhân dân; Báo Đà Nẵng.


PHẦN II – NHỮNG NGƯỜI LẶN XUỐNG DÒNG THỦY TÚ

Muốn đánh được cầu Thủy Tú, trước hết phải hiểu nó.

Đó là công việc của trinh sát.

Những người lính 471 nhiều lần lặn xuống tận khu vực chân cầu.

Họ không chỉ quan sát bằng mắt.

Họ phải ghi nhớ.

Vị trí từng trụ cầu.

Độ sâu.

Hướng tiếp cận.

Những nơi có thể ẩn mình.

Những nơi không thể đi qua.

Sau nhiều lần trinh sát, bộ phận tác chiến vẽ bản đồ từng chi tiết và dựng sa bàn, từ đó xây dựng phương án đánh cầu.

Đó là một công việc rất khác với hình dung đơn giản về một trận đánh.

Không có chuyện cứ mang thuốc nổ tới rồi đặt xuống.

Mỗi mét đường dưới nước đều phải được tính.

Bởi trên mặt sông, người lính gần như không có nơi ẩn nấp.

Phía trên là ánh sáng.

Là những vọng gác.

Là những người lính bảo vệ.

Và nếu bị phát hiện, những người dưới nước sẽ trở thành mục tiêu rất dễ bị bắn.

Các hồi ức về Tiểu đoàn 471 cho biết về sau đối phương tăng cường bảo vệ cầu bằng hàng rào, đèn cao áp và cả những bè nổi có lính canh. Điều đó cho thấy mức độ quan trọng của cây cầu cũng như sự nguy hiểm mà những người đặc công nước phải đối mặt.

Nhưng trước khi những lớp phòng thủ ấy được tăng cường, các chiến sĩ 471 đã phải tìm cách vượt qua hệ thống bảo vệ ban đầu.

Đêm xuống.

Dòng nước tối lại.

Và những người lính bắt đầu lặng lẽ trườn mình xuống sông.

Không ai biết chắc đêm ấy mình sẽ trở về bằng cách nào.

Chỉ biết rằng nhiệm vụ phải hoàn thành.

Ảnh thật tư liệu cuối phần

Chú thích: Ảnh thật về các cựu cán bộ, chiến sĩ Tiểu đoàn Đặc công nước 471 trong những tư liệu về đơn vị; không phải ảnh tái hiện trận đánh.

Nguồn: Báo Quân đội nhân dân, Báo Đà Nẵng.


PHẦN III – ĐÊM ĐẦU TIÊN VÀ KHỐI BỘC PHÁ MẮC CẠN

Theo tư liệu chính thức của Báo Đà Nẵng, đêm 6-4-1972, đơn vị xuất quân thực hiện nhiệm vụ đánh hai cầu Thủy Tú.

Các tổ trinh sát đưa bộ phận mang thuốc nổ tới vị trí tập kết.

Hai khối thuốc được lắp ráp.

Rồi những người lính bắt đầu kéo chúng xuống nước.

Mọi thứ tưởng như diễn ra thuận lợi.

Nhưng chiến trường không bao giờ hoàn toàn giống sa bàn.

Khi kéo khối bộc phá vào trụ cầu phía bờ nam, khối thuốc bị mắc cạn.

Nếu tiếp tục cố kéo, nguy cơ bị phát hiện rất lớn.

Chỉ huy trận đánh phải quyết định:

Lùi lại.

Không phải bỏ nhiệm vụ.

Mà chờ một cơ hội khác.

Đó là một quyết định khó khăn.

Bởi những người lính đã xuống nước, đã tiếp cận được mục tiêu, nhưng phải quay trở lại khi nhiệm vụ chưa hoàn thành.

Cây cầu vẫn đứng.

Đối phương vẫn chưa biết chính xác chuyện gì vừa xảy ra dưới mặt nước.

Và những người lính trở về để chuẩn bị cho đêm tiếp theo.

Theo Báo Đà Nẵng, đêm 7 rạng sáng 8-4-1972, hai tổ chiến đấu trở lại và lần này đưa được khối thuốc tới đúng vị trí mố cầu giữa sông.

Đó là lần thứ hai họ đi vào bóng tối.

Nhưng lần này, họ không được phép để thất bại.

Ảnh thật tư liệu cuối phần

Chú thích: Ảnh thật tư liệu về khu vực cầu Thủy Tú và không gian sông nước Đà Nẵng; không khẳng định ảnh nào là khoảnh khắc của đêm 6-4-1972.

Nguồn: Báo Đà Nẵng và tư liệu lịch sử địa phương.


PHẦN IV – 2 GIỜ 45 PHÚT VÀ TIẾNG NỔ DƯỚI CẦU

Đêm 7-4.

Dòng nước lại trở thành con đường hành quân.

Hai tổ chiến đấu đưa khối thuốc tới mố cầu giữa sông.

Lần này, mọi thứ diễn ra đúng kế hoạch.

Khối nổ được cố định.

Kíp hẹn giờ được điểm hỏa.

Rồi những người lính rời khỏi mục tiêu.

Không ai ở lại để nhìn kết quả.

Họ phải rút.

Phải càng xa cây cầu càng tốt.

2 giờ 45 phút.

Tiếng nổ đầu tiên vang lên.

Mặt nước rung chuyển.

2 giờ 55 phút.

Tiếng nổ thứ hai nối tiếp.

Theo Báo Đà Nẵng, hai nhịp cầu sắt bị lật nhào, trụ thứ ba của cầu xi-măng đổ sập. Tuyến giao thông Đà Nẵng – Huế bị cắt đứt trong một thời gian, gây khó khăn cho việc tiếp viện của đối phương.

Một cây cầu.

Hai tiếng nổ.

Nhưng phía sau đó là cả một tuyến đường bị gián đoạn.

Những đoàn xe phải dừng.

Đường sắt không còn hoạt động bình thường.

Công binh đối phương phải bắt tay vào sửa chữa.

Và 20 ngày sau, khi cầu đường sắt vừa được sửa xong và đang cho đầu máy chạy thử, lực lượng ta lại tiếp tục đánh phá. Sau đó, đối phương bỏ việc khôi phục cầu đường sắt, tập trung sửa cầu đường bộ và tăng cường bố phòng.

Đó chính là ý nghĩa của một trận đánh đặc công.

Không cần giữ cây cầu.

Chỉ cần khiến nó không thể tiếp tục làm nhiệm vụ như trước.

Ảnh thật tư liệu cuối phần

Chú thích: Ảnh thật tư liệu liên quan đến cầu Thủy Tú và tuyến giao thông Đà Nẵng – Huế. Nếu ảnh không có chú thích gốc xác nhận thời điểm 7–8/4/1972 thì không gán ảnh đó là ảnh của vụ nổ.

Nguồn: Báo Đà Nẵng, tư liệu lịch sử địa phương.


PHẦN V – ĐẶNG TIẾN LỢI: NGƯỜI LÍNH ĐI VÀO DÒNG NƯỚC LẦN CUỐI

Trong câu chuyện về cầu Thủy Tú, cái tên Đặng Tiến Lợi được nhiều nguồn nhắc đến.

Ông quê ở Thái Bình, là chiến sĩ Tiểu đoàn Đặc công nước 471 và sau này được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân.

Một nguồn tư liệu của Báo Thái Bình kể rằng sau khi lập chiến công ở cầu Liên Chiểu, bốn ngày sau Đặng Tiến Lợi tiếp tục mang bộc phá đến cầu Thủy Tú.

Nhưng câu chuyện đau lòng nhất xảy ra trong lần đánh cầu Thủy Tú thứ hai.

Theo nguồn này, khi đang thực hiện nhiệm vụ, ông bị đối phương phát hiện.

Đạn bắn dữ dội xuống mặt nước.

Biết rằng mình khó có thể trở về, Đặng Tiến Lợi vẫn cố đưa khối bộc phá tới chân cầu, giật chốt kích nổ.

Cầu Thủy Tú bị phá sập.

Người lính đặc công nước không trở về.

Một nguồn tư liệu khác kể chi tiết hơn: Đặng Tiến Lợi cùng một đồng đội kéo khối thuốc nổ khoảng 2 tạ vào đánh cầu; khi người đồng đội hy sinh, ông tiếp tục một mình đưa khối thuốc vào vị trí, thực hiện cách đánh “cường tập”, dùng chính thân mình ép khối thuốc vào trụ cầu rồi kích nổ.

Các nguồn này có những khác biệt về lần đánh, ngày tháng và cách mô tả diễn biến, vì vậy không nên gộp tất cả thành một biên bản duy nhất.

Nhưng có một điều nhất quán:

Đặng Tiến Lợi đã hy sinh trong một nhiệm vụ đánh cầu Thủy Tú và cây cầu đã bị phá.

Điều ấy đủ để hiểu sự khốc liệt của công việc mà những người lính đặc công nước phải thực hiện.

Có những người lính bước xuống sông với suy nghĩ sẽ trở về.

Có người trở về.

Có người không.

Đặng Tiến Lợi thuộc về những người không trở về.

Ảnh thật tư liệu cuối phần

Chú thích: Tư liệu ảnh thật về Anh hùng, liệt sĩ Đặng Tiến Lợi và Tiểu đoàn Đặc công nước 471. Báo Quân đội nhân dân xác nhận ông được tuyên dương danh hiệu Anh hùng LLVT nhân dân.

Nguồn: Báo Quân đội nhân dân; Báo Thái Bình; tư liệu về Tiểu đoàn Đặc công nước 471.


PHẦN VI – NHỮNG NGƯỜI KHÔNG TRỞ VỀ

Đặng Tiến Lợi không phải người duy nhất hy sinh trong những trận đánh cầu Thủy Tú.

Một câu chuyện khác được Báo Đà Nẵng và Báo Quân đội nhân dân ghi lại là câu chuyện của liệt sĩ Trịnh Quang Vinh, chiến sĩ Đại đội 2, Tiểu đoàn Đặc công nước 471.

Theo Báo Đà Nẵng, trong tháng 4-1972, Trịnh Quang Vinh cùng đồng đội nhận nhiệm vụ đánh phá cầu Thủy Tú. Khi ôm thuốc nổ qua sông, tổ chiến đấu bị phát hiện; đối phương bắn dữ dội xuống lòng sông và pháo kích. Trịnh Quang Vinh trúng mảnh đạn pháo và hy sinh. Nhân dân địa phương đã an táng anh tại Cồn Dâu.

Câu chuyện ấy còn có một phần rất đau lòng.

Trước khi đi B, Trịnh Quang Vinh đã lập gia đình với Nguyễn Thị Sinh, một cô giáo cùng quê Hải Hậu, Nam Định.

Theo lời kể được Báo Đà Nẵng đăng lại, hai người quen nhau rất ngắn trước khi cưới.

Rồi anh lên đường.

Anh hứa sẽ trở về khi đất nước hết chiến tranh.

Nhưng lời hứa ấy không thành.

Nhiều năm sau, đồng đội và gia đình mới tìm được nơi anh nằm lại.

Năm 1990, chị Sinh cùng đồng đội vào Đà Nẵng khai quật mộ liệt sĩ. Khi nhìn thấy hài cốt của chồng, bà bật khóc.

Chiến tranh đã kết thúc.

Nhưng đối với những người ở lại, có những cuộc chia tay kéo dài hàng chục năm.

Đó là điều mà những con số về một trận đánh không thể nói hết.

Một cây cầu bị phá.

Một tuyến đường bị cắt.

Một nhiệm vụ hoàn thành.

Nhưng phía sau là những gia đình mất đi người thân.

Những người vợ chờ chồng.

Những người mẹ chờ con.

Và những đồng đội nhiều năm sau vẫn đi tìm nhau.

Ảnh thật tư liệu cuối phần

Chú thích: Tư liệu thật về Tiểu đoàn 471 và câu chuyện tìm kiếm, quy tập liệt sĩ Trịnh Quang Vinh. Hiện không có ảnh tư liệu công khai đủ chắc chắn để xác nhận chân dung Trịnh Quang Vinh; vì vậy không gán một bức ảnh người lính bất kỳ là ảnh của anh.

Nguồn: Báo Đà Nẵng; Báo Quân đội nhân dân.


LỜI KẾT – DÒNG SÔNG VẪN CHẢY

Có những cây cầu được xây bằng sắt và bê tông.

Nhưng trong chiến tranh, một cây cầu đôi khi còn mang một ý nghĩa lớn hơn rất nhiều.

Nó nối những tuyến đường.

Nó đưa người và hàng hóa đi qua.

Nó giúp một đội quân duy trì hoạt động.

Và vì thế, nó cũng trở thành mục tiêu của những người lính đặc công.

Cầu Thủy Tú đã nhiều lần bị đánh phá.

Tiểu đoàn Đặc công nước 471 đã phải trinh sát, lặn xuống sông, mang thuốc nổ tiếp cận những chân cầu được bảo vệ nghiêm ngặt.

Đêm 7 rạng sáng 8-4-1972, hai tiếng nổ lúc 2 giờ 45 và 2 giờ 55 đã đánh sập các bộ phận quan trọng của cầu, làm gián đoạn tuyến Đà Nẵng – Huế.

Nhưng khi kể lại câu chuyện này, điều đáng nhớ nhất không phải là hai tiếng nổ.

Mà là những người đã ở dưới dòng nước trước hai tiếng nổ ấy.

Đặng Tiến Lợi.

Trịnh Quang Vinh.

Và những đồng đội mà lịch sử chưa thể gọi tên đầy đủ.

Họ còn rất trẻ.

Họ mang theo tuổi hai mươi xuống dòng sông.

Có người trở lại.

Có người nằm lại.

Và có người để lại phía sau một lời hứa với người thân mà cả đời không thể thực hiện.

Hôm nay, cầu và đường ở Đà Nẵng đã trở thành những tuyến giao thông bình thường.

Người ta đi qua cầu mà không cần nghĩ đến những đêm năm xưa.

Dòng sông vẫn chảy.

Nước vẫn trôi dưới chân cầu.

Chỉ có những người từng sống trong thời ấy mới hiểu rằng dòng nước tưởng bình lặng kia từng chứng kiến biết bao người lính đi vào bóng tối.

Và có lẽ, đó là điều mà một câu chuyện “Thời hoa lửa” cần giữ lại.

Không biến chiến tranh thành một huyền thoại chỉ toàn chiến công.

Mà phải nhớ cả những mất mát.

Bởi phía sau một cây cầu bị đánh sập là những con người bằng xương bằng thịt.

Phía sau một chiến công là một gia đình.

Phía sau một người lính hy sinh là cả một cuộc đời chưa kịp sống hết.

Đặng Tiến Lợi đã không trở về từ dòng Thủy Tú.

Trịnh Quang Vinh cũng không trở về.

Nhưng hôm nay, chúng ta vẫn còn có thể gọi tên họ.

Và khi còn có người nhớ đến họ, thì dòng sông năm ấy vẫn chưa quên những người lính đã từng đi qua.

Ảnh thật tư liệu cuối câu chuyện

https://images.openai.com/static-rsc-4/X1h8oCY3RR-uf0jCWRnhiG44UkTT9jlDv6Bo-rHQZSi61_pPrFIG37YmiWoG8XayO6PWny7QBsKCRKBcqY-405mQuJd4O0liMhUPB0cHPxM_v79vaXFx82O6u_Lsf_07k4-tYn0sVaaIjY_oEFDYYX7SeRp1e4NXOVNOiOZ2r1cOKZmbQ5JbhrT61-8vsvT5?purpose=fullsizehttps://images.openai.com/static-rsc-4/I5tk6NhrJL9PGJ3iJtME3isuhOLmHfwSym3FtWk0t7W3A84toQaG1uz_hYOJDyx30a2hCM7gBHaRZR5Epk_fJReTnkDgi5xV4modWOMjhT2Q5tkx8gGZoT0XDuuvk-7_CsqtdNdqQ_cNCfjFi9dVZKjd2_BSOZe-e-UJzufNC5mHKDFF13WzrFGixDX3cY4y?purpose=fullsizehttps://images.openai.com/static-rsc-4/HuL_zIDYa3MCStA79IQkTIBG41AW6_zP39sQ3SUnNMSaMYPxSTHvXDIxRytpAcEferOJod4aqct0JiLJRwPcWoDP7OdAvSTWKQqualA4mlpdzLIW1cJXsPgJKBCFtB2PItj4jDpjX2CkRKjoZcSEOG9FYlKboJzG8ic9nc_I-Zrg0gvnG0n9w1ndkGSmXonC?purpose=fullsize

Chú thích: Khu vực Thủy Tú và dòng sông ngày nay. Đây là ảnh thật hiện tại của địa điểm lịch sử, không phải ảnh chiến tranh; được dùng ở phần kết để đối chiếu không gian nơi các chiến sĩ Tiểu đoàn 471 từng chiến đấu.

Nguồn: Tư liệu địa phương Đà Nẵng; đối chiếu lịch sử với Báo Đà Nẵng và Báo Quân đội nhân dân.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn