Anh hùng Lực lượng vũ trang

Đặng Trần Đức – Người điệp viên giữa lòng sào huyệt tình báo địch

Phạm Anh Thư

Hà Nội22/08/2026phường Kiến An (phường Kiến An)5 lượt xem0 lượt chia sẻ

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, có những người chiến sĩ phải hoạt động trong bóng tối, lặng lẽ bước vào hàng ngũ đối phương để tìm kiếm những thông tin quan trọng phục vụ cách mạng. Thiếu tướng Đặng Trần Đức, với bí danh Ba Quốc, là một trong những người như vậy. Điều đặc biệt ở ông là suốt nhiều năm, ông không chỉ hoạt động sâu trong hàng ngũ địch mà còn từng bước đặt chân vào chính cơ quan đầu não của hệ thống tình báo ngụy ở Sài Gòn.

Đặng Trần Đức sinh năm 1922 tại Thanh Trì, Hà Nội, nhập ngũ tháng 5-1949. Ông tham gia cách mạng từ những ngày đầu giành chính quyền ở Hà Nội năm 1945. Từ Chủ tịch UBND cách mạng lâm thời xã Thanh Trì, ông chuyển sang công tác tại Công an huyện Thanh Trì. Năm 1950, trước yêu cầu của Đảng và cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, ông được tổ chức bố trí hoạt động trong hàng ngũ địch. Bằng sự thông minh, kiên định và khả năng giữ bí mật, ông đã thu thập, cung cấp nhiều tin tức và tài liệu có giá trị, góp phần phục vụ cuộc kháng chiến.

Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, theo chỉ thị của tổ chức, Đặng Trần Đức đi theo con đường của đối phương vào Sài Gòn để tiếp tục nhiệm vụ. Ban đầu, ông chỉ làm công việc kế toán. Tuy nhiên, bằng sự nhạy bén và khả năng quan sát, ông từng bước tạo dựng lòng tin với Trần Kim Tuyến, Giám đốc Sở Nghiên cứu chính trị, thực chất là một cơ quan mật vụ chống Cộng của chính quyền Ngô Đình Diệm. Ba Quốc dần trở thành một trong những người được tin cậy bên cạnh Trần Kim Tuyến. Sau khi vượt qua những lần kiểm tra bằng máy phát hiện nói dối của Mỹ, ông càng củng cố được vị trí và có cơ hội tiếp cận nhiều tài liệu quan trọng trong Phủ Đặc ủy Trung ương tình báo ngụy.

Ông luôn biết cách tận dụng những sơ hở và mâu thuẫn bên trong chính quyền đối phương để mở rộng mạng lưới thu thập tin tức. Sau Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, Ba Quốc nắm được nhiều thông tin quan trọng về tình hình Khe Sanh và những tính toán của Mỹ nhằm tìm cách thoát khỏi thế sa lầy ở Việt Nam. Ông nhận thấy nếu không thể giải quyết bằng quân sự, Mỹ có thể tính đến phương án đảo chính, thay chính quyền quân sự bằng một chính quyền dân sự để tìm cách thương lượng với lực lượng cách mạng.

Nhận thấy đây là nguồn tin đặc biệt quan trọng, Ba Quốc tìm cách đưa thông tin đến Linh Quang Viên, Tổng trưởng Quốc phòng kiêm Đặc ủy trưởng Phủ Đặc ủy Tình báo trung ương ngụy. Sau đó, theo đề xuất của ông, một phòng chuyên tập hợp và phân tích tình hình an ninh, tình báo được thành lập. Ba Quốc được đưa về làm việc tại đây. Vị trí mới giúp ông có điều kiện tiếp xúc với nhiều nguồn tin quan trọng, đồng thời tạo cơ hội tiếp cận những nhân vật đối lập với chính quyền Thiệu và khai thác thêm nhiều thông tin có giá trị.

Một trong những nhiệm vụ đặc biệt mà Ba Quốc thực hiện là tiếp cận kho tài liệu mật của thiếu tá Nguyễn Văn Giàu. Ông đã âm thầm quan sát thói quen sinh hoạt của Giàu và nhận thấy mỗi sáng khoảng 9 giờ 30, người này thường rời phòng để đi uống cà phê. Một lần, gần đến thời điểm ấy, Ba Quốc mang hồ sơ lên phòng Nguyễn Văn Giàu. Nhận thấy ông có việc cần làm, Giàu cho phép ông ngồi tại bàn làm việc của mình trong lúc mình ra ngoài.

Đó chính là cơ hội mà Ba Quốc đã chờ đợi từ lâu. Khi Nguyễn Văn Giàu rời khỏi phòng, ông mở tủ tài liệu và phát hiện một tập hồ sơ mang tên “Stay behind in North Vietnam”, nói về các mạng lưới gián điệp được cài cắm lại ở miền Bắc Việt Nam. Đây là tài liệu đặc biệt quan trọng mà ông đã tìm kiếm trong thời gian dài.

Không có máy ảnh trong tay, Ba Quốc buộc phải tìm cách ghi nhớ và chép lại từng phần của tài liệu. Ông vừa làm vừa liên tục quan sát đồng hồ để bảo đảm có đủ thời gian đưa hồ sơ trở lại vị trí cũ trước khi Nguyễn Văn Giàu quay về. Sau lần đầu thành công, ông tiếp tục tận dụng khoảng thời gian Giàu đi uống cà phê để sao chép tài liệu. Cứ như vậy, trong khoảng nửa tháng, Ba Quốc đã chép lại toàn bộ 35 bộ hồ sơ về 35 ổ gián điệp được cài ở miền Bắc.

Trong suốt quá trình ấy, chỉ có một lần một nữ thư ký đánh máy tài liệu mật tên Nguyễn Thị Lệ bất ngờ bước vào và nhìn thấy ông đứng cạnh tủ tài liệu của Nguyễn Văn Giàu. Tuy nhiên, cô không tỏ ra nghi ngờ. Có lẽ vì trước đó đã nhiều lần nhìn thấy Ba Quốc làm việc tại bàn của Nguyễn Văn Giàu nên sự xuất hiện của ông bên cạnh tủ tài liệu không khiến cô chú ý.

Toàn bộ 35 bộ hồ sơ sau đó được Ba Quốc chuyển cho cơ sở để gửi về cấp trên. Những mạng lưới gián điệp được đề cập trong các tài liệu này sau đó đã bị lực lượng ta bắt gọn. Đây là một trong những chiến công đặc biệt quan trọng trong quãng đời hoạt động tình báo của ông.

Càng được đối phương tin tưởng, Ba Quốc càng có điều kiện tiếp xúc với những nhân vật cấp cao trong chính quyền Sài Gòn. Nhờ vậy, nguồn tin ông thu thập ngày càng phong phú, từ các vấn đề an ninh, tình báo đến kế hoạch quân sự và những tính toán của Mỹ đối với cuộc chiến. Những tài liệu ấy được chuyển về cấp trên kịp thời, góp phần giúp cách mạng chủ động đối phó với các hoạt động của đối phương. Ông cũng nhiều lần báo trước những cuộc vây bắt của cảnh sát địch, giúp cán bộ ta hoạt động trong nội thành kịp thời tránh nguy hiểm.

Suốt 24 năm hoạt động trong hàng ngũ địch, Ba Quốc luôn phải sống giữa sự nghi ngờ và hiểm nguy. Nhưng ông vẫn giữ vững bản lĩnh, phẩm chất của người chiến sĩ cách mạng và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Đằng sau những chiến công thầm lặng ấy là sự hy sinh không nhỏ của gia đình. Để bảo vệ vỏ bọc của ông, có người thân đã phải chịu cảnh bắt bớ, tra tấn, đàn áp. Trong khi đó, vợ con ông ở miền Bắc phải chịu những lời dị nghị, xa lánh vì mọi người không biết sự thật về nhiệm vụ mà ông đang thực hiện.

Câu chuyện về cuộc đời tình báo của Ba Quốc còn gắn với một sự hy sinh đặc biệt của người vợ đầu tiên. Trước năm 1954, khi ông hoạt động tại nội thành Hà Nội, Vũ Đình Lý, Trưởng Công an Hà Nội, từng nghi ngờ ông là nhân viên công an Việt Minh. Tuy nhiên, vì ông có quan hệ quen biết với Đàm Y, Quận trưởng Quận 1 Hà Nội, nên chưa bị bắt. Hồ sơ nghi vấn vẫn được giữ lại và tiếp tục theo dõi.

Khi tổ chức chuẩn bị đưa Ba Quốc vào Nam hoạt động, nguy cơ thân phận bị phát hiện vẫn còn đó. Để xóa bỏ nghi vấn và tạo một vỏ bọc đủ vững chắc cho chặng đường hoạt động lâu dài, tổ chức đề nghị ông thuận theo việc kết hôn với người cháu gái của vợ chồng Đàm Y trước khi vào Nam.

Ba Quốc quyết định nói sự thật với người vợ Phạm Thị Thanh. Lúc ấy, hai người đã có một con trai và một con gái. Hiểu được nhiệm vụ của chồng, bà Thanh đã đặt lợi ích của đất nước lên trên hạnh phúc riêng. Bà đồng ý để chồng thực hiện nhiệm vụ, chỉ đề nghị ông trao lại đôi hoa tai cưới của mình cho người vợ sau và trên giấy tờ phải ghi rõ đó là người vợ kế.

Sau này, con gái ông với người vợ sau là Đặng Thị Hữu Hạnh từng thắc mắc vì sao trong giấy khai sinh của mình lại ghi mẹ là “vợ kế”. Mãi đến sau năm 1975, Ba Quốc mới kể cho con biết sự thật về cuộc đời hoạt động bí mật của mình và lý do ông phải có hai người vợ để hoàn thành nhiệm vụ.

Trong khi Ba Quốc tiếp tục hoạt động ở miền Nam, vợ con ông ở miền Bắc phải chịu những tháng ngày vô cùng cay đắng. Người con gái Đặng Thị Giang khi còn học cấp I đã bị bạn bè xa lánh vì mang tiếng là con của một người “theo giặc”. Trước sự dè bỉu của làng xóm, gia đình ông phải rời quê, lên nông trường Vân Lĩnh xin làm công nhân trồng chè. Những người thân của ông phải âm thầm sống trong cô đơn và chịu đựng sự hiểu lầm suốt nhiều năm.

Sau ngày đất nước thống nhất 30-4-1975, Ba Quốc trở ra Bắc, tìm về quê hương và gặp lại gia đình. Khi nghe vợ kể lại những tháng ngày đã trải qua, ông vô cùng xúc động và nói với bà: “Em là một người anh hùng”.

Quả thật, phía sau chiến công của một người điệp viên là sự hy sinh thầm lặng của cả một gia đình. Ba Quốc đã sống trong lòng địch suốt 24 năm, luôn phải che giấu thân phận, đối mặt với nguy hiểm và có thể bị phát hiện bất cứ lúc nào. Nhưng ông vẫn giữ trọn lòng trung thành với cách mạng, kiên định với nhiệm vụ được giao và âm thầm đóng góp những chiến công đặc biệt cho đất nước.

Ngày 6-11-1978, Đặng Trần Đức được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ông mất năm 2004, để lại trong lòng gia đình, đồng chí và đồng đội niềm tiếc thương sâu sắc. Cuộc đời của ông trở thành một câu chuyện đặc biệt về lòng trung thành, bản lĩnh và sự hy sinh thầm lặng của những người chiến sĩ tình báo hoạt động giữa lòng đối phương.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn