ĐẶNG VĂN BÊ - TẤM GƯƠNG TIÊU BIỂU VỀ LÒNG YÊU NƯỚC
Đặng Văn Bê sinh năm 1943 tại ấp Láng Biển, xã Mỹ Phước Tây, huyện Cai Lậy (nay thuộc thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang). Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, quê hương thường xuyên chịu những cuộc càn quét của quân đội Sài Gòn và Mỹ, ông sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1961, khi mới mười tám tuổi, Đặng Văn Bê tham gia lực lượng du kích xã Mỹ Phước Tây. Nhờ tinh thần dũng cảm và khả năng chỉ huy, ông nhanh chóng được giao nhiệm vụ Tiểu đội trưởng du kích, sau đó chuyển sang lực lượng an ninh, trực tiếp bảo vệ căn cứ và trại giam của cách mạng
ĐẶNG VĂN BÊ - TẤM GƯƠNG TIÊU BIỂU VỀ LÒNG YÊU NƯỚC
Đặng Văn Bê sinh năm 1943 tại ấp Láng Biển, xã Mỹ Phước Tây, huyện Cai Lậy (nay thuộc thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang). Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước bị chia cắt, quê hương thường xuyên chịu những cuộc càn quét của quân đội Sài Gòn và Mỹ, ông sớm giác ngộ cách mạng. Năm 1961, khi mới mười tám tuổi, Đặng Văn Bê tham gia lực lượng du kích xã Mỹ Phước Tây. Nhờ tinh thần dũng cảm và khả năng chỉ huy, ông nhanh chóng được giao nhiệm vụ Tiểu đội trưởng du kích, sau đó chuyển sang lực lượng an ninh, trực tiếp bảo vệ căn cứ và trại giam của cách mạng. Từ năm 1961 đến năm 1969, chiến trường Mỹ Tho diễn ra vô cùng quyết liệt trong bối cảnh quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn đẩy mạnh chiến lược "Chiến tranh đặc biệt" rồi "Chiến tranh cục bộ", liên tục mở các cuộc hành quân càn quét nhằm tiêu diệt lực lượng cách mạng ở đồng bằng sông Cửu Long. Trong giai đoạn này, Đặng Văn Bê đã cùng đồng đội tham gia gần 100 trận đánh, phối hợp với các đơn vị bạn loại khỏi vòng chiến đấu 246 tên địch, trong đó có 2 cố vấn Mỹ, thu 10 khẩu súng, bắn rơi 1 trực thăng và bắn chìm hoặc bắn hư hỏng nặng 5 tàu tuần tiễu. Những thành tích ấy góp phần làm suy yếu hệ thống kiểm soát của đối phương trên địa bàn Cai Lậy và bảo vệ các căn cứ cách mạng của tỉnh Mỹ Tho. Tháng 10 năm 1969, trong một trận chống càn tại xã Mỹ Phước Tây, Đặng Văn Bê bị quân thuộc Sư đoàn 7 Bộ binh Quân lực Việt Nam Cộng hòa bắt giữ. Sau thời gian bị giam tại khám đường Cần Thơ và chịu nhiều hình thức tra tấn dã man nhưng không khai thác được thông tin, tháng 2 năm 1970, địch đày ông ra Nhà tù Phú Quốc – nơi được mệnh danh là "địa ngục trần gian" đối với các chiến sĩ cách mạng.
Tại Nhà tù Phú Quốc, Đặng Văn Bê không chấp nhận khuất phục. Ông cùng nhiều tù binh bí mật xây dựng cơ sở cách mạng, thành lập chi bộ Đảng trong trại giam để lãnh đạo anh em đấu tranh chống chế độ giam cầm, phản đối các hình thức đàn áp và bảo vệ khí tiết của người chiến sĩ cách mạng. Đây là một hình thức đấu tranh chính trị đặc biệt, diễn ra ngay trong lòng nhà tù, góp phần giữ vững niềm tin và ý chí chiến đấu của hàng nghìn tù binh. Ngày 30 tháng 1 năm 1971, khi địch cưỡng ép tù binh chuyển sang khu "chiêu hồi" nhằm phục vụ chiến tranh tâm lý, Đặng Văn Bê đã cùng đồng đội kiên quyết phản đối. Trong cuộc đấu tranh ấy, ông đã chống trả quyết liệt, làm thất bại kế hoạch của quân cảnh. Để trả thù, địch dùng một trong những hình thức tra tấn dã man nhất: trùm bao bố lên người ông rồi nhúng vào chảo nước sôi. Dù phải chịu đau đớn tột cùng, Đặng Văn Bê vẫn không khuất phục và anh dũng hy sinh. Sự hy sinh của ông đã làm bùng lên làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của các tù binh trong Nhà tù Phú Quốc, trở thành biểu tượng của ý chí "thà hy sinh chứ không đầu hàng".
Với những cống hiến to lớn cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, Đặng Văn Bê được Đảng và Nhà nước truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Ngày nay, tại thị xã Cai Lậy có Trường Tiểu học Đặng Văn Bê và đường Đặng Văn Bê mang tên ông, như lời tri ân đối với người chiến sĩ đã hiến trọn tuổi xuân cho Tổ quốc. Cuộc đời của Anh hùng Đặng Văn Bê là minh chứng sinh động cho lòng yêu nước, tinh thần bất khuất và ý chí chiến đấu của quân và dân Tiền Giang trong những năm tháng "thời hoa lửa". Tấm gương của ông không chỉ góp phần làm nên truyền thống anh hùng của quê hương Cai Lậy mà còn để lại bài học sâu sắc về lòng trung thành với lý tưởng cách mạng, tinh thần trách nhiệm và sự hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc.


