Đặng Văn Ngoạn
Ông Đặng Văn Ngoạn (1820–?), quê Đồng Tháp, là đệ tử tiêu biểu của Phật Thầy Tây An, có vai trò quan trọng trong việc truyền bá đạo Bửu Sơn Kỳ Hương và tổ chức khai hoang lập trại ruộng tại Đồng Tháp Mười. Ông vừa tu hành, vừa chữa bệnh cứu dân và thu hút đông đảo tín đồ, góp phần hình thành cơ sở tôn giáo – xã hội ở địa phương.
Ông Đặng Văn Ngoạn sinh năm Canh Thìn (1820), là con trưởng trong một gia đình nông dân nghèo ở thôn Nhị Mỹ, tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong, tỉnh Định Tường (nay thuộc huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp), bên bờ rạch Trà Bông.
Năm ngoài 20 tuổi, sau khi cùng người anh lập được một khoảnh ruộng vườn khả dĩ nuôi sống đủ gia đình, ông xin phép mẹ cho tìm nơi dưỡng tính tu tâm. Ông rời gia đình vào rạch ông Bường, lựa một nơi thanh vắng để tịnh niệm. Có người vu cho ông ngầm mưu làm chuyện bất lương, làng bắt ông ra nhà việc tra hỏi, anh ông là Bổn Chính cũng bị bắt. Bấy giờ có người bà con với ông đang làm chức Quản Khám ở Mỹ Trà, huyện lỵ Kiến Phong (Cao Lãnh ngày nay) can thiệp nên hai anh em ông được tha.
Tháng chạp năm Canh Tuất (1850) khi biết tin Phật Thầy Tây An được phép nhà cầm quyền tỉnh An Giang chỉ định cư trú ở chùa Tây An dưới chân núi Sam, ông Ngoạn tìm đến tận nơi để xin quy y. Ông được Phật Thầy uỷ cho vào núi Voi mở ruộng, lập nhà, cất chùa. Sau 14 tháng, ông được Phật Thầy gọi về núi Sam giúp Phật Thầy trong việc phát phù trị bệnh và xem sóc chùa Tây An.
Nhiều người kéo đến trị bệnh, nghe thuyết pháp, quy y ngày một đông đảo. Ông thu nhận nhiều đệ tử có đạo hạnh cao, uy tín lớn, có khả năng tiếp tay với ông trong việc trị bệnh cứu dân, phổ biến tín điều Tứ ân của Bửu Sơn Kỳ Hương, như Quản cơ Trần Văn Thành (Quản Thành), Tăng chủ Bùi thiền sư (Bùi Văn Thân), Bùi Văn Tây (Đình Tây), Nguyễn Văn Xuyến (Đạo Xuyền), Đạo Lập... Ông trở thành một trong mười hai đại đệ tử "Thập nhị hiền thủ" của Phật Thầy.
Để vừa bảo đảm bí mật hoạt động của đạo vừa tạo điều kiện cho đông đảo nông dân nghèo không có ruộng cày có cuộc sống khá hơn, Phật Thầy cho thành lập nhiều đoàn khai hoang vào những vùng hoang vu, hẻo lánh, lập trại ruộng để tín đồ vừa lao động sản xuất vừa tu tâm dưỡng tính theo Tứ ân. Năm 1851, có bốn đoàn khai hoang xuất phát:
Đoàn thứ nhất: do Bùi Văn Thân và Bùi Văn Tây chỉ huy tiến vào khai phá vùng Thất Sơn, chung quanh núi Két.
Đoàn thứ hai: do Quản cơ Trần Văn Thành chỉ huy khai hoang vùng Láng Linh.
Đoàn thứ ba: do ông Nguyễn Văn Xuyến (đạo Xuyền) khai hoang khu vực Cái Dầu (nay thuộc xã Bình Long, Châu Phú, An Giang).
Đoàn thứ tư: do ông chỉ huy khai hoang vùng Đồng Tháp Mười, ở khu vực rạch Trà Bông, sông Cần Lố, rạch Ông Bường.
Ông Đạo Ngoạn thu phục được hàng ngàn tín đồ, cùng nhau khai hoang mở ruộng, xây dựng một "trại ruộng" làm nơi tu học (được mọi người quen gọi là chùa) ở tại Trà Bông.
Vợ ông lợi dụng thâu nạp tiền bạc của bá tánh tín đồ, ông đành đi ẩn lánh ở Thất Sơn, rồi sang Tà Lơn. Sau đó, ông trở về Trà Bông lo thuốc thang cho mẹ. Vâng lời mẹ, ông cưới vợ khác tên là Thị Thu, một phụ nữ chăm chỉ, giúp ông dựng lại chùa chiền, chấn hưng đạo pháp. Sau đó, bà Thu mang bệnh trọng qua đời. Ông giao hết của cải cho hai người cháu rồi đóng cửa chùa, chuyên lo kinh kệ.
Năm Giáp Tuất (1874), bệnh thời khí hoành hành nhiều nơi, Hương chức làng Nhị Mỹ thỉnh cầu ông chữa trị. Ông liền đem hết tài năng, kinh nghiệm, cứu sống không biết bao nhiêu người.
Nhớ lời Thầy và tuân theo lệnh mẹ, ông Ngoạn cưới bà vợ thứ ba là Nguyễn Thị Huê ở rạch Cái Vừng. Đến năm Canh Thìn, bà Huê hạ sinh một bé trai, đặt tên là Đặng Công Hứa.
Lúc bấy giờ, sau khi Phật Thầy viên tịch, thực dân Pháp đàn áp cuộc khởi nghĩa của Trần Văn Thành, những nhân vật cốt cán của Bửu Sơn Kỳ Hương bị theo dõi, truy lùng, tín đồ phân tán, lẩn tránh... Trước tình hình đó, tín đồ Bửu Sơn Kỳ Hương ở khu vực Trà Bông, Nhị Mỹ, Cao Lãnh chuyển sang đạo Tứ ân Hiếu nghĩa và trại ruộng Trà Bông trước đây trở thành chùa Tứ ân Hiếu nghĩa, do Đặng Công Hứa (Chín Hứa, con ông Đặng Văn Ngoạn), làm trụ trì và được dân gian gọi là chùa Ông Chín.
Trong hai thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, chùa Ông Chín là cơ sở nuôi chứa cán bộ, hầu hết tín đồ đều tham gia kháng chiến. Đến nay, còn lại một số di tích như hầm trú ẩn mặt trước và mặt sau chùa, một số hố bom.



