Đặng Văn Ngoạn(1820-1890)
Ông Đặng Văn Ngoạn sinh năm Canh Thìn (1820), là con trường trong một gia đình nông dân nghèo ở thôn Nhị Mỹ, tổng Phong Thạnh, huyện Kiến Phong, tỉnh Định Tường (nay thuộc huyện Cao Lãnh, tỉnh Đồng Tháp), bên bờ rạch Trà Bông.
Năm ngoài 20 tuổi, sau khi cùng người anh lập được một khoảnh ruộng vườn khả dĩ nuôi sông đủ gia đình, ông xin phép mẹ cho tìm nơi dưỡng tính tu tâm. Ông rời gia đình vào rạch ông Bường, lựa một nơi thanh váng để tịnh niệm. Có người vu cho ông ngâm mưu làm chuyện bắt lương, làng bắt ông ra nhà việc tra hỏi, anh ông là Bốn Chính cũng bị bắt. Bấy giờ có người bà con với ông đang làm chức Quản Khám ở Mỹ Trà, huyện lỵ Kiến Phong (Cao Lành ngày nay) can thiệp nên hai anh em ông được tha.
Tháng chạp năm Canh Tuất (1850) khi biết tin Phật Thấy Tây An được phép nhà cầm quyền
tỉnh An Giang chỉ định cư trú ở chùa Tây An dưới chân núi Sam, ông Ngoạn tìm đến tận nơi để xin quy y. Ông được Phật Thấy uỷ cho vào núi Voi mở ruộng, lập nhà, cất chùa. Sau 14 tháng, ông được Phật Thấy gọi về núi Sam giúp Phật Thấy trong việc phát phủ trị bệnh và xem sóc chùa Tây An.
Nhiều người kéo đền trị bệnh, nghe thuyết pháp, quy y ngày một đông đảo. Ông thu nhận nhiều đệ tử có đạo hạnh cao, uy tín lớn, có khả năng tiếp tay với ông trong việc trị bệnh cứu dân, phổ biến tín điều Tứ ân của Bửu Sơn Kỳ Hương, như Quản cơ Trần Vân Thành (Quản Thành), Tăng chủ Bùi thiền sư (Bùi Văn Thân), Bùi Vân Tây (Đình Tây), Nguyễn Văn Xuyên (Đạo Xuyên), Đạo Lập... Ông trở thành một trong mười hai đại đệ tử “Thập nhị hiện thủ" của Phật Thấy.
Để vừa bảo đảm bí mật hoạt động của đạo vừa tạo điều kiện cho đông đảo nông dân nghèokhông có ruộng cày có cuộc sống khá hơn, Phật Thấy cho thành lập nhiều đoàn khai hoang vào những vùng hoang vu, hẻo lánh, lập trại ruộng để tín đồ vừa lao động sản xuất vừa tu tâm dưỡng tính theo Tứ ân. Năm 1851, có bồn đoàn khai hoang xuất phát:
- Đoàn thứ nhất: do Bùi Văn Thân và Bùi Văn Tây chỉ huy tiền vào khai phá vùng Thất Sơn, chung quanh núi Két.
- Đoàn thứ hai: do Quân cơ Trần Văn Thành chỉ huy khai hoang vùng Láng Linh.
- Đoàn thứ ba: do ông Nguyễn Văn Xuyền (đạo Xuyên) khai hoang khu vực Cái Dầu (nay thuộc xã Bình Long, Châu Phú, An Giang).
- Đoản thứ tư: do ông chỉ huy khai hoang vùng Đồng Tháp Mười, ở khu vực rạch Trà Bông, sông Cần Lỗ, rạch Ông Bường.
Ông Đạo Ngoạn thu phục được hàng ngàn tín đồ, cùng nhau khai hoang mờ ruộng, xây dựng một "trại ruộng" làm nơi tu học (được mọi người quen gọi là chùa) ở tại Trà Bông.
Vợ ông lợi dụng thâu nạp tiền bạc của bá tánh tín đó, ông đành đi ăn lánh ở Thất Sơn, rồi sang Tà Lơn. Sau đó, ông trở về Trà Bồng lo thuốc thang cho mẹ. Vâng lời mẹ, ông cưới vợ khác tên là Thị Thu, một phụ nữ châm chỉ, giúp ông dựng lại chùa chiến, chân hưng đạo pháp. Sau đó, bà Thu mang bệnh trọng qua
đời. Ông giao hết của cải cho hai người cháu rồi đóng cửa chùa, chuyên lo kinh kệ.
Năm Giáp Tuất (1874), bệnh thời khí hoành hành nhiều nơi, Hương chức làng Nhị Mỹ thỉnh cấu ông chữa trị. Ông liền đem hết tài năng, kinh nghiệm, cứu sống không biết bao nhiêu người.
Nhớ lời Thấy và tuân theo lệnh mẹ, ông Ngoạn cưới bà vợ thứ ba là Nguyễn Thị Huê ở rạch Cái Vừng. Đến năm Canh Thìn, bà Huê hạ sinh một bé trai, đặt là Đặng Công Hứa.
Lúc bây giờ, sau khi Phật Thấy viên tịch, thực dân Pháp đàn áp cuộc khởi nghĩa của Trần Văn Thành, những nhân vật cốt cán của Bửu Sơn Kỳ Hương bị theo dõi, truy lùng, tín đồ phân tán, lần tránh... Trước tình hình đó, tin đồ Bửu Sơn Kỳ Hương ở khu vực Trà Bông, Nhị Mỹ, Cao Lãnh chuyển sang đạo Tử ân hiều nghĩa và trại ruộng Trà Bông trước đây trở thành chùa Tứ ân hiều nghĩa, do Đặng Công Hứa (Chín Hứa, con ông Đặng Văn Ngoạn), làm trụ trì và được dân gian gọi là chùa Ông Chín.
Trong hai thời kỳ kháng chiến chồng thực dân Pháp và đề quốc Mỹ, chùa Ông Chín là cơ sở nuôi chứa cán bộ, hầu hết tín đồ đều tham gia kháng chiền. Đến nay, còn lại một số di tích như hầm trú ẩn mặt trước và mặt sau chùa, một số hồ bom.



