Bài viết

ĐẶNG VĂN THANH – TỪ CẬU BÉ LẶN BIỂN CÀ NÁ ĐẾN NGƯỜI CHÍNH TRỊ VIÊN TÀU KHÔNG SỐ

Anh hùng LLVTND Đặng Văn Thanh sinh ra ở vùng biển Cà Ná, Ninh Thuận, sớm mồ côi cha mẹ và từng không biết chữ. Sau nhiều năm hoạt động cách mạng ở miền Nam, cuối năm 1961 ông vượt Trường Sơn ra Bắc, được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp và được căn dặn phải học chữ. Chỉ ba tháng sau, ông biết đọc, biết viết, tiếp tục học hàng hải và trở thành Chính trị viên Đoàn tàu không số, góp phần viết nên huyền thoại của những chuyến vận tải bí mật trên Biển Đông.

Khánh Hòa22/08/2026Xã Thạnh Mỹ Tây (Đoàn xã Thạnh Mỹ Tây)2 lượt xem0 lượt chia sẻ
ĐẶNG VĂN THANH – TỪ CẬU BÉ LẶN BIỂN CÀ NÁ ĐẾN NGƯỜI CHÍNH TRỊ VIÊN TÀU KHÔNG SỐ

Trong ký ức của những người thân ở Quán Toan, Hải Phòng, Anh hùng LLVT nhân dân Đặng Văn Thanh không chỉ là một người lính từng đi qua chiến tranh, mà còn là người đàn ông hiền lành, ít nói, sống bình dị giữa xóm làng. Ít ai biết rằng phía sau cuộc đời thanh thản ấy là một hành trình đặc biệt, bắt đầu từ tuổi thơ cơ cực bên bờ biển Cà Ná.

Đặng Văn Thanh sinh ra ở vùng biển Cà Ná, Ninh Thuận, sớm mồ côi cả cha lẫn mẹ. Từ nhỏ, ông đã phải làm nghề lặn biển, bắt cá để kiếm sống. Biển cả vừa nuôi lớn cậu bé mồ côi, vừa rèn cho ông sức chịu đựng và sự gan góc trước những hiểm nguy.

Cách mạng Tháng Tám thành công đã làm thay đổi cuộc đời Đặng Văn Thanh. Ông tham gia cách mạng và tích cực chiến đấu trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp tại Nam Trung Bộ. Sau Hiệp định Giơ-ne-vơ năm 1954, trong khi nhiều cán bộ, chiến sĩ tập kết ra Bắc, ông nhận lệnh ở lại miền Nam hoạt động bí mật.

Có lần, Đặng Văn Thanh được giao giả làm ngư dân đi đánh cá để điều tra khu vực Mũi Đèn. Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, sức khỏe ông đã suy giảm nhiều. Khu ủy quyết định đưa ông ra Bắc chữa bệnh và học tập, đồng thời giao một nhiệm vụ đặc biệt: mang theo một phong bì tuyệt mật và chỉ được trao tận tay Đại tướng Võ Nguyên Giáp.

Ông bắt đầu cuộc hành trình vượt Trường Sơn. Gần tám tháng băng rừng, vượt núi, cuối năm 1961, Đặng Văn Thanh mới ra tới miền Bắc. Đến Quảng Bình, ông được xe đón về Hà Nội.

Sau khi trao bức thư, ông được gặp Đại tướng Võ Nguyên Giáp. Đại tướng đưa cho ông một cây bút, đặt trước mặt tấm bản đồ rồi đề nghị:

“Bây giờ đồng chí kể chuyện cho chúng tôi nghe tình hình trong ấy thế nào?... Nhất là nói kỹ tình hình ven biển từ Khánh Hòa vào tới Mũi Đèn.”

Đặng Văn Thanh cầm cây bút nhưng đứng lặng trước tấm bản đồ. Ông bối rối, không dám nhìn thẳng vào Đại tướng. Một lúc lâu sau, người chiến sĩ từng vượt qua biết bao hiểm nguy mới nhỏ nhẹ thú thật:

“Báo cáo Đại tướng... Tôi không biết chữ.”

Đại tướng lặng đi rồi cầm cây bút chì, kéo ông lại gần. Thay vì yêu cầu Đặng Văn Thanh tự đọc bản đồ, Đại tướng lần lượt chỉ từng địa danh: Phan Rang, Phan Thiết, Mũi Đèn, Vũng Găng, Cà Ná... Đến đâu, Đặng Văn Thanh kể đến đó bằng trí nhớ của một người từng sống, hoạt động và gắn bó với vùng biển ấy.

Cuộc trò chuyện kéo dài đến tận khuya. Ông kể cả tuổi thơ mồ côi, những ngày lặn biển Cà Ná và những năm tháng hoạt động cách mạng. Cuối buổi, Đại tướng ôm ông thật chặt và giao hai nhiệm vụ: chữa bệnh cho khỏe và phải đi học.

Đặng Văn Thanh bắt đầu học chữ từ đó.

Chỉ sau ba tháng, ông đã biết đọc, biết viết và được chuyển sang học hàng hải. Từ một người chiến sĩ từng bối rối trước tấm bản đồ vì không biết chữ, Đặng Văn Thanh bước vào một chặng đường mới: trở thành Chính trị viên của những con tàu không số, cùng đồng đội vượt Biển Đông thực hiện những chuyến vận chuyển bí mật chi viện cho chiến trường miền Nam.

Sau bao năm ngang dọc biển khơi và góp sức làm nên những chiến công của Đoàn tàu không số, ngày đất nước thống nhất, Đặng Văn Thanh không trở về Cà Ná mà chọn Hải Phòng làm quê hương thứ hai. Ông lập gia đình, gắn bó với ruộng đồng và sống cuộc đời giản dị như một người nông dân thực thụ.

Nhiều người hàng xóm thậm chí không biết “ông Thanh quê miền trong” chính là một Anh hùng LLVT nhân dân.

Người từng đi qua những năm tháng hiểm nguy cuối cùng lại tìm thấy hạnh phúc trong điều giản dị nhất: một mái nhà, ruộng đồng và cuộc sống hòa bình. Đó có lẽ cũng là phần thưởng quý giá đối với người lính đã dành tuổi trẻ của mình cho đất nước.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn