Bài viết

Đánh chiếm Quần đảo Trường Sa trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975

Gia Lai17/05/2026Ban Biên tập tổng hợp1 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đánh chiếm Quần đảo Trường Sa trong Tổng tiến công và nổi dậy Xuân 1975

Sau chiến thắng Buôn Ma Thuột (10/3/1975), Quân ủy Trung ương đã đề xuất Bộ Chính trị về việc giải phóng Quần đảo Trường Sa. Ngày 25/3/1975, đề xuất này được Bộ Chính trị đưa vào nghị quyết. Cùng thời gian này, Bộ Tổng Tham mưu quyết định điều Sở Chỉ huy tiền phương của Bộ Tư lệnh Hải quân di chuyển vào Đà Nẵng để vừa tiếp quản căn cứ hải quân của Quân đội Sài Gòn, vừa chuẩn bị cho nhiệm vụ tác chiến giải phóng khu vực biển đảo. Ngày 30/3/1975, Quân ủy Trung ương giao nhiệm vụ cho các đồng chí Chu Huy Mân, Võ Chí Công ở Khu với nội dung “Theo chỉ thị của Bộ Chính trị, Thường vụ Quân ủy Trung ương giao cho Khu ủy và Bộ Tư lệnh Quân khu 5 nhiệm vụ nghiên cứu, chỉ đạo thực hiện gấp rút, nhằm thời cơ thuận lợi nhất, đánh chiếm các đảo hiện do quân Ngụy miền Nam chiếm đóng thuộc quần đảo Nam Sa (Trường Sa)” (1).Trường Sa là một quần đảo nằm ở phía Nam biển Đông từ kinh tuyến 111° 30’ đến kinh tuyến 117° 20’ kinh độ Đông, từ vĩ tuyến 6° 50’ đến vĩ tuyến 12° Bắc, cách vịnh Cam Ranh khoảng 480 km, cách đảo Hải Nam khoảng 1.150 km, cách Đài Loan khoảng 1.780 km (2). Quần đảo Trường Sa gồm trên 100 đảo lớn nhỏ và bãi san hô ngầm, có diện tích khoảng 180.000 km2. Vào thời kỳ cuối của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chỉ có 11 đảo có người; trong đó, 5/11 đảo do Quân đội Sài Gòn đóng giữ gồm Đảo Song Tử Tây, Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn và Trường Sa. Tổng số quân địch đóng trên 5 đảo này chỉ khoảng 160 tên thuộc Tiểu đoàn 371, Tiểu khu Phước Tuy. Lực lượng này được bố trí như sau: Đảo Nam Yết - nơi đóng Sở Chỉ huy chung có 50 tên, Đảo Song Tử Tây có 39 tên, Đảo Sơn Ca có 25 tên, Đảo Sinh Tồn có 19 tên và Đảo Trường Sa có 30 tên. Đầu tháng 4/1975, để thực hiện nhiệm vụ đánh chiếm Quần đảo Trường Sa, Bộ Tư lệnh Hải quân sử dụng Đoàn 125, một mặt vận chuyển lực lượng, vũ khí, trang bị kỹ thuật cho chiến trường Nam Bộ, mặt khác khẩn trương chuẩn bị lực lượng sẵn sàng tiến công giải phóng các đảo khi thời cơ đến. Ngày 4/4/1975, Bộ Tư lệnh Hải quân nhận được chỉ thị của Bộ Tổng Tư lệnh về việc sử dụng lực lượng hiện có, phối hợp với lực lượng đặc công của Quân khu 5, tranh thủ thời cơ có lợi đánh chiếm Quần đảo Trường Sa - một quần đảo có ý nghĩa chiến lược về chính trị, quân sự và kinh tế, góp phần giải phóng đất nước. Thực hiện chỉ thị này, Đảng ủy, Bộ Tư lênh Quân chủng Hải quân xây dựng kế hoạch đánh chiếm Quần đảo Trường Sa với tinh thần bám sát tình hình, tranh thủ thời cơ có lợi nhất để giải phóng đảo, kiên quyết không để lực lượng nào khác đến đánh chiếm đảo trước ta. Lực lượng đánh chiếm Quần đảo Trường Sa gồm Đội 1, Đoàn 126 Đặc công Hải quân, đơn vị từng đánh chìm nhiều tàu địch ở Cửa Việt và một bộ phận hỏa lực thuộc Tiểu đoàn 471, Quân khu 5 do đồng chí Đội trưởng Nguyễn Ngọc Quế chỉ huy. Các tàu vận tải 673, 674, 675 của Đoàn 125 vừa từ Hải Phòng vào tiếp quản Đà Nẵng có nhiệm vụ chở lực lượng tiến công giải phóng Quần đảo Trường Sa. Những con tàu “không số” này đã từng qua lại khu vực Quần đảo Trường Sa, quen đường, có kinh nghiệm tránh đá ngầm. Chỉ huy chung toàn bộ lực lượng tiến công giải phóng Quần đảo Trường Sa là đồng chí Mai Năng - Đoàn trưởng Đoàn 126. Theo phương án tác chiến, mục tiêu tiến công đầu tiên là đảo Song Tử Tây, tiếp đó là các đảo Nam Yết, Sơn Ca, Sinh Tồn, Trường Sa. Phương châm tác chiến là bí mật, bất ngờ tiến công. Thời cơ đánh chiếm đảo được xác định từ 0 giờ đến 2 giờ sáng, đây là lúc ta có thể lợi dụng yếu tố thủy văn để bí mật đổ quân lên đảo. Ngày 9/4/1975, lệnh đánh Song Tử Tây được truyền xuống các đơn vị tham gia đánh chiếm đảo. Ngay ngày hôm sau, phân đội tàu gồm 3 chiếc của Đoàn 125 cấp tốc hành quân vào Đà Nẵng. Cùng thời gian này, Đội 1 Đoàn 126 đang làm nhiệm vụ bảo vệ một số căn cứ ở Bán đảo Sơn Trà (Đà Nẵng) cũng được lệnh bàn giao cho Quân khu 5 để nhận nhiệm vụ mới. 4 sáng ngày 11/4, toàn bộ Đội 1 Đoàn 126 và bộ phận hỏa lực thuộc Tiểu đoàn 471, Quân khu 5 rời Quân cảng Đà Nẵng hành quân ra đảo. 19 giờ ngày 13/4, tàu 673 tiếp cận được đảo; hai tàu 674, 675 vòng ra phía Bắc và Nam đảo Song Tử Tây. Rạng sáng ngày 14/4, các phân đội bí mật đổ bộ lên đảo theo ba mũi: Mũi 1 gồm 4 tổ đặc công có trang bị hỏa lực B40, B41 một và một khẩu ĐKZ 82 đánh từ hướng Nam lên; Mũi 2 gồm 3 tổ đặc công có hỏa lực B40, B41 đánh từ hướng Tây vào; Mũi 3 gồm 2 tổ đặc công đánh từ hướng Đông Nam sang. 3 giờ sáng ngày 14/4, các mũi tiến công bí mật áp sát mục tiêu. Trận đánh bắt đầu lúc 4 giờ 30 phút sáng. Sau phát đạn ĐKZ của Mũi 1 làm hiệu lệnh tiến công, các Mũi đồng loạt nổ súng. Bị đánh bất ngờ, đối phương lúng túng chống trả yếu ớt. Bộ đội ta nhanh chóng chiếm lĩnh trận địa sau 30 phút chiến đấu. Ngay sau đó, lá cờ của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam được treo lên cột cờ ở phía Đông đảo. Trong trận này ta diệt 6 tên, bắt sống 33 tên, trong đó có tên Thiếu uý chỉ huy đảo, thu 2 đại liên, 1 ĐKZ, 2 cối 60mm, 2 trung liên và một số súng bộ binh các loại.
9 giờ ngày 29/4/1975, Cờ giải phóng đã tung bay trên đảo Trường Sa. Ảnh Internet Mất đảo Song Tử Tây, hệ thống phòng thủ của địch ở quần đảo Trường Sa bị đe dọa. Địch vội điều 2 tàu HQ 16 và HQ 402 từ Vũng Tàu ra định phản kích hòng chiếm lại đảo; song trước sự bố phòng chặt chẽ và tinh thần cảnh giác sẵn sàng chiến đấu cao của ta, hơn nữa, lúc này tuyến phòng thủ Phan Rang của địch đã bị vỡ, quân địch hoang mang không dám tổ chức tiến công. Chúng đành quay về tăng cường phòng thủ đảo Nam Yết, nơi đặt Sở Chỉ huy trung tâm của chúng ở quần đảo Trường Sa. Sau trận đánh đảo Song Tử Tây, ta để lại một bộ phận (Phân đội 1) chốt giữ đảo. Lực lượng còn lại quay về Đà Nẵng củng cố và chuẩn bị đánh tiếp các đảo khi có thời cơ. Thời gian này, hải quân Quân đội Sài Gòn vẫn tiếp tế và yểm trợ cho các đảo, tuy nhiên do phải đối phó với quân ta ở khắp nơi nên sự chi viện, tiếp tế bị hạn chế, nhất là đảo Song Tử Tây bị ta đánh chiếm nên tinh thần binh lính và sĩ quan ngụy trên đảo rất hoang mang, dao động. Đây là thời cơ thuận lợi để ta tiến công giải phóng các đảo còn lại. Tiền phương Bộ Tư lệnh Hải quân ở Đà Nẵng đã phối hợp với Bộ Tư lệnh Quân khu 5 thống nhất kế hoạch đánh chiếm các đảo còn lại của quần đảo Trường Sa. Theo đó, ta sử dụng hai tàu 673 và 641 của Đoàn 125 chở Phân đội 2 và 3 của Đội 1, Đoàn 126 và một bộ phận lực lượng đặc công Quân khu 5 đi giải phóng các đảo Sơn Ca, Nam Yết, Sinh Tồn. 4 sáng ngày 21/4, các tàu nhổ neo hướng ra Trường Sa. Chiều ngày 24/4, tàu ta đã tiến sát mục tiêu. Chờ tới đêm, tàu 673 định đổ quân lên đảo Nam Yết thì gặp tàu khu trục của địch hoạt động gần đó đang tuần tiễu nên ta buộc phải đưa lực lượng đổ bộ về Song Tử Tây chờ thời cơ. Cùng thời điểm này, tàu 641 áp sát đảo Sơn Ca chuẩn bị đổ bộ lên đảo, song do ngược dòng, nước chảy xiết nên cuộc đổ bộ không thành. Tàu 641 phải di chuyển lên hướng Tây Bắc, chọn vị trí đổ bộ bộ thuận lợi hơn. 0 giờ 30 phút ngày 25/4, lực lượng đổ bộ (Phân đội 2) do Thiếu uý Đỗ Viết Cường chỉ huy đã lên được đảo Sơn Ca. Sau khi trinh sát nắm chắc mục tiêu, đúng 2 giờ 30 phút ngày 25/4, trận đánh đảo Sơn Ca bắt đầu, các mũi tiến công của ta đồng loạt nổ súng. Đối phương hoàn toàn bất ngờ, chống trả yếu ớt rồi bỏ chạy tán loạn. Trận đánh kết thúc nhanh chóng sau nửa giờ chiến đấu. 3 giờ sáng, ta làm chủ hoàn toàn đảo Sơn Ca. Đối phương bị diệt 2 tên, bị thương 3 tên, số còn lại bị bắt sống. Ta thu 2 máy vô tuyến điện, 4 máy điện thoại, 2 xuồng máy, 1 máy nổ, 40 thùng phuy xăng và toàn bộ vũ khí, đạn dược. Mất tiếp đảo Sơn ca, quân địch ở quần đảo Trường Sa càng hoang mang. Từ trưa ngày 26/4, chúng đưa các tàu tuần dương, khu trục lùng sục quanh đảo, song không làm được gì đành quay về Nam Yết. 20 giờ 15 phút ngày 26/4, trinh sát kỹ thuật của ta bắt được điện của chỉ huy địch lệnh rút quân khỏi Nam Yết. Đến 20 giờ 45 phút, Sở Chỉ huy Quân chủng Hải quân lệnh cho tàu 673 lập tức đưa Phân đội 3 và tổ đặc công Quân khu 5 lên chiếm đảo, quyết không để lực lượng nào khác lợi dụng cơ hội này chiếm đảo. Chấp hành mệnh lệnh của Quân chủng Hải quân, 1giờ 30 phút ngày 27/4, tàu 673 rời Sơn Ca hướng về Nam Yết. 10 giờ 30 phút cùng ngày, tàu ta đã tiến vào gần đảo Nam Yết. Phát hiện lực lượng ta, các tàu của đối phương chở quân rút khỏi đảo, vội vàng tháo chạy. Ta nhanh chóng đổ bộ chiếm lĩnh đảo. 11giờ 30 phút ngày 27/4, ta hoàn toàn làm chủ Đảo Nam Yết. Khi đảo Nam Yết, nơi địch đặt Sở Chỉ huy trên quần đảo Trường Sa bị mất, quân lính ở các đảo còn lại hoang mang cực độ, tìm cách thoát thân. Sau khi chiếm Đảo Nam Yết, tàu 673 tiếp tục đưa một bộ phận Đội 1 đi đánh đảo Sinh Tồn nhưng quân địch ở đây đã rút chạy hết. 10 giờ 30 phút ngày 28/4, ta làm chủ đảo Sinh Tồn. Phát huy khí thế tiến công thần tốc, táo bạo của quân và dân ta trên các chiến trường nói chung và ở vùng biển đảo nói riêng, 16 giờ ngày 28/4, bộ đội ta tiếp tục hành quân đi giải phóng đảo Trường Sa, đảo xa nhất nằm ở phía Nam của quần đảo. 9 giờ ngày 29/4, lực lượng ta đổ bộ lên đảo và đến 9 giờ 30 phút, ta làm chủ đảo Trường Sa, kết thúc nhiệm vụ đặc biệt quan trọng mà Quân ủy Trung ương giao cho Quân chủng Hải quân là giải phóng Quần đảo Trường Sa thân yêu. Đây là thắng lợi có ý nghĩa chiến lược góp phần to lớn vào thắng lợi chung của toàn dân tộc, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Chú thích: 1.Lịch sử Cục Tác chiến (1945 – 2005), Nxb QĐND, H.2005, tr.683, 684. 2.Lưu Văn Lợi, Những điều cần biết về đất, biển, trời Việt Nam, Nxb Thanh niên, H.2007, tr.42, 43. Thiếu tướng TS Nguyễn Xuân Năng

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn