Bài viết

ĐÁNH QUÂN CẢNH CƯỚP SÚNG KHI ĐI LAO ĐỘNG

An Giang26/06/2026BAN LIÊN LẠC TÙ BINH VIỆT NAM (ĐOÀN THANH NIÊN ĐẶC KHU PHÚ QUỐC)2 lượt xem0 lượt chia sẻ

ĐÁNH QUÂN CẢNH CƯỚP SÚNG KHI ĐI LAO ĐỘNG

Giữa năm 1970, phân khu C8 có hơn 1.000 tù binh, trong đó đa số bị địch đưa ra Trại giam tù binh Cộng sản Việt Nam/Phú Quốc trên chuyển máy bay C130 ngày 11-2-1970. Đảng ủy phân khu gồm các đồng chí: Lương Duy Hiến (quê Khánh Hòa), Bí thư; Nguyễn Văn Minh (tức Sáu Khoanh, quê Sông Bé), Phó Bí thư; Lê Út Long (Hà), Ủy viên thường vụ; Hai Quắn (quê Long An) và một đồng chí (không nhớ tên).

Khu C8 là một khu giam ngoài cùng về phía bắc trại giam. Đứng ở sân trại giam nhìn lên Đồi 37 quan sát, anh em thấy máy bay địch thường quần đảo, thả bom, rải chất độc hóa học, biết chắc chắn căn cứ cách mạng ở không xa Đồi 37 nên tiến hành bàn bạc và quyết tâm vượt ngục trở về với cách mạng..

Anh Nguyễn Văn Ri (Bao) được anh Lương Duy Hiến, Bí thư Đảng ủy phân khu giới thiệu đưa vào nhóm nghiên cứu kế hoạch cuộc vượt ngục ở khu C8 ngày 31-8-1970. Anh Nguyễn Văn Minh được các đồng chí trong Đảng ủy giao cho tổ chức lãnh đạo đoàn vượt ngục.

Sau một thời gian khảo sát, nắm kỹ những sơ hở của bọn lính gác, các anh đã vạch ra một kế hoạch vượt ngục khá chỉ tiết, được các đồng chí trong Đảng ủy đồng ý và chỉ đạo anh em phải chiến đấu dũng cảm, mưu trí, đánh diệt cướp súng bọn lính thật nhanh, rút lẹ vào rừng, dự kiến hướng đi, địa điểm đến, hạn chế tối đa thương vong. Nhóm vượt ngục tổ chức triển khai kế hoạch chiến đấu, phân tổ tam tam (tổ ba người), có tổ trưởng, tổ phó, ban chỉ huy lãnh đạo.

Ngày 31-8-1970, vào lúc 7 giờ sáng, lính hải quân đến nhận tù binh đi làm, nhưng trời mưa lớn kéo dài nên chúng không nhận nữa. Đảng ủy cùng nhóm vượt ngục nhận định, nhất định buổi chiều trời tạnh mưa, chúng sẽ đến nhận tù đi làm, nên những người trong nhóm vượt ngục được giao khi nào xe bọn hải quân đến, bọn giám thị đánh kẻng thì chủ động chạy ra cửa xếp hàng trước để được cắt người đi làm trúng số lượng người tổ chức đã sắp xếp.

Đúng như nhận định của Đảng ủy và nhóm vượt ngục, khoảng 14 giờ chiều ngày 31-8-1970, một chiếc xe GMC có 6 tên hải thuyền đi cùng đã đến trại giam. Khi tiếng kẻng vang lên, tất cả anh em trong tổ vượt ngục nhanh nhẹn chạy ra cổng, leo lên xe. Địch đếm 40 người giao cho hải quân, số anh em còn lại quay về trại. Trên đường đi, anh em kiểm tra số người trong tổ chức vượt ngục là 18 người và phân công 4 người đánh một tên địch.

Đến nơi làm việc, anh em tìm cách liên lạc với nhau quyết định thực hiện kế hoạch vượt ngục và chọn địa điểm là miếu Cô Sáu, rồi phân công mỗi tổ chiếm một chỗ ở góc xe để ngồi gần bọn gác tù.

16 giờ 30 phút, bọn chúng cho anh em nghỉ, điểm danh và 17 giờ xe bắt đầu chuyển bánh đưa tù binh về trại. Khi xe chạy đến miếu Cô Sáu, cách phân khu A6 khoảng 2 kilômét, nhận được tín hiệu của đồng chí Năm Hùng (người lãnh đạo do Đảng ủy phân công), anh em nhanh chóng hành động, nhưng do sức khỏe kém nên trận đánh kéo dài khoảng 10 phút là kết thúc, rồi nhận được lệnh rút.

Bọn lính bảo vệ ở các địa điểm canh gác của địch khá gần (cách khoảng 500 mét), hỏa lực địch ở các điểm xung quanh bắn theo xối xả làm cho 9 người hy sinh, 4 người bị thương. Khi anh em đến được địa điểm tập kết, dịch cho hai chiếc trực thăng cá lẹp, bắn rốc két và trọng liên trúng vị trí tập kết làm 2 người bị thương nặng. Chúng còn đổ quân bao vây các ngả đường, bắn bừa bãi vào những nơi nghi ngờ anh em ẩn nấp, vừa bắc loa kêu gọi anh em ra hàng. Nhưng lúc đó trời đã tối, như kế hoạch hướng đi đã định trước, anh em chia tốp hành quân thoát ra khỏi những nơi chúng phục kích.

Trong những ngày tìm đường về vùng giải phóng, anh em phải ăn lá cây, trái cây để có sức khỏe hành quân. Đi đến chiều ngày thứ ba đến gần vùng giải phóng thì không may anh em đụng phải trái gài của du kích, mìn nổ, một anh trong nhóm hy sinh (anh Nguyễn Văn Năng, quê Mỹ Hạnh, Long An). Nghe tiếng nổ, các đồng chí du kích xã đi tìm gặp anh em vượt ngục. Mọi người cùng nhau tìm cuốc, xẻng đào hố chôn anh Năng xong, các đồng chí du kích dẫn anh em về căn cứ, ngày hôm sau đưa anh em vượt ngục về căn cứ của huyện ở phía bắc đảo.

Kết quả vụ vượt ngục này, anh em diệt 3 tên lính, thu 3 khẩu súng (1 khẩu súng cạc bin, 2 súng AR15). Trong số 40 người ra đi, có 10 người hy sinh (9 người bị địch bắn lúc mới ra đi, 1 người bị đụng trái gài), còn 30 người về tới vùng giải phóng.

Sau đó, các anh cùng những người khác vượt ngục thoát ra được biên chế vào Đại đội Cơ động huyện Phú Quốc (gồm tất cả 80 người). Chỉ mấy ngày sau, đơn vị của họ đã đánh bốt Cầu Chuối diệt một trung đội địch, đánh bốt Cầu Bè diệt tên Quận trưởng. Các anh cũng đã đánh trận phục kích xe ô tô địch gần Đồi 37. Rồi các anh hướng về phía trại giam, bắn chỉ thiên trọn băng AK, để anh em tù binh nghe và tin tưởng tìm cách trở về với cách mạng.

- Ngoài ra, trong Báo cáo của Ban Đón tiếp tù binh Phú Quốc ghi: Ngày 11-10-1972, có 3 người trong số đánh quân cảnh chạy về đến nơi báo cáo cho biết, 18 anh em tù binh đi làm bên ngoài đã đánh quân cảnh diệt 3 tên, thu 4 khẩu súng. Trong lúc đánh nhau, 4 tù binh hy sinh. Trên đường tìm về căn cứ cách mạng, đụng độ với các toán quân truy kích, 4 anh em nữa bị hy sinh, 1 người bị bắt, chỉ có 3 người về tới căn cứ, còn 6 người bị lạc, không rõ sống chết ra sao.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn