DANH SĨ CAO BÁ QUÁT – KHÍ TIẾT "THÁNH QUÁT" VÀ TIẾNG NÓI BẤT KHUẤT BẮT BẤT BÌNH
Tác giả: Lê Vân Hà
Cao Bá Quát (1809 – 1855), tự là Chu Cát, hiệu là Cúc Đường, quê ở làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, tỉnh Bắc Ninh (nay thuộc Hà Nội). Ông là một nhà thơ, một danh sĩ tài hoa kiệt xuất thời Nguyễn, người nổi tiếng với tài văn chương lỗi lạc cùng khí tiết thẳng thắn, quật cường.
Sống dưới thời nhà Nguyễn (với các đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức), Cao Bá Quát từ nhỏ đã bộc lộ trí tuệ phi thường. Ông viết chữ cực đẹp, thơ văn phóng khoáng, có sức lay động lòng người. Người đời đương thời trân trọng tài năng của ông đến mức tôn vinh ông là "Thánh Quát", ghép cùng Nguyễn Văn Siêu thành cặp danh sĩ lừng lẫy "Văn như Siêu, Quát vô Bình Thủy" (Văn như Nguyễn Văn Siêu và Cao Bá Quát thì đời nhà Bình Thủy không ai sánh bằng).
Mặc dù tài năng kiệt xuất, con đường quan lộ của Cao Bá Quát lại vô cùng gập gềnh, lận đận. Ông đỗ Cử nhân năm 1831 nhưng nhiều lần thi Hội đều bị đánh trượt vì cá tính ngông nghênh, không chịu gò mình theo khuôn mẫu thi cử sáo mòn. Khi làm quan nhỏ trong triều đình, ông nhiều lần lên tiếng bất bình trước chính sách hà khắc, tham nhũng của quan lại và sự bảo thủ của triều đình nhà Nguyễn khiến dân chúng lầm than.
Không chịu khoanh tay đứng nhìn cảnh nhân dân đói khổ, năm 1854, Cao Bá Quát đã từ quan và đứng lên lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Mỹ Liang (Hà Tây) chống lại triều đình Tự Đức. Cuộc khởi nghĩa tuy thất bại và ông hy sinh trên chiến trường năm 1855, nhưng hình ảnh Cao Bá Quát vẫn sống mãi như một biểu tượng của trí thức kiên trung, sẵn sàng xả thân vì dân lành và tự do.


