Bài viết

Danh tướng đất Hà Thành: Vương Thừa Vũ và những trận đánh để đời

Hưng Yên30/11/2025báo dân việt (xã Tiên Hoa)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Ông là người lính quyết tử trong 60 ngày đêm giữ Hà Nội, là Đại đoàn trưởng đầu tiên đưa quân tiến vào Thủ đô trong ngày chiến thắng 10/10 lịch sử. Từ chiến hào khói lửa đến chiến trường Điện Biên, từ tư duy chiến lược đến thực tiễn chiến đấu, Trung tướng Vương Thừa Vũ không chỉ là một vị tướng tài ba, mà còn là một nhà lãnh đạo mẫu mực, một người thầy của tư tưởng quân sự hiện đại Việt Nam.

Trung tướng Vương Thừa Vũ không chỉ là một danh tướng tài ba mà còn là người con của Hà Nội, gắn bó với những thời khắc lịch sử quan trọng của Thủ đô. Ông chính là chỉ huy mặt trận Hà Nội trong 60 ngày đêm lịch sử, cũng là người Đại đoàn trưởng dẫn đầu Đại đoàn 308 về tiếp quản Thủ đô ngày 10/10/1954.

Trung tướng Vương Thừa Vũ (1910-1980) tên thật là Nguyễn Văn Đồi, quê ở Vĩnh Ninh, Vĩnh Quỳnh, Thanh Trì, Hà Nội. Từ nhỏ, ông đã theo gia đình sang Trung Quốc làm ăn sinh sống, song ông luôn nung nấu ý nghĩ sẽ có ngày trở về cứu nước. Vì vậy, ông đã tìm thầy học võ và rèn luyện võ nghệ.

Năm 1940, ông liên lạc với các tổ chức cách mạng và các nhà yêu nước Việt Nam để tìm đường về nước hoạt động. Ngay từ năm 1941, khi vừa về nước tham gia phong trào cứu nước, ông đã bị thực dân Pháp bắt giam và tù đày.

Ở trong tù, ông vẫn nêu cao chí khí chiến đấu, không chịu khuất phục trước đòn roi tra tấn của quân thù. Ông cùng các đồng chí vừa tiến hành công tác binh vận để xây dựng lực lượng, vừa bí mật tổ chức huấn luyện quân sự ngay trong nhà tù. Năm 1943, ông được kết nạp vào Đảng.

Tháng 3/1945, ông vượt ngục thành công. Sau đó, ông tham gia bạo động giành chính quyền ở Nghĩa Lộ nhưng không thành, ông về Hòa Bình gây dựng cơ sở cách mạng, huấn luyện quân sự.

Với tài năng của mình, ông được cấp trên giao giữ nhiều trọng trách: Khu trưởng Khu 11-Khu đặc biệt Hà Nội (1946-1947); Khu phó Khu 4 rồi Phân khu trưởng Phân khu Bình Trị Thiên (1947-1948); Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308 (1949-1954). Chủ tịch Ủy ban Quân chính thành phố Hà Nội (9/1954-11/1954); Tư lệnh Quân khu Hữu Ngạn, rồi làm Tư lệnh Quân khu 3 (1955-1963); Phó Tổng Tham mưu trưởng Quân đội nhân dân Việt Nam (1964-1980)...

Trung tướng Vương Thừa Vũ là một trong những danh tướng quân sự tài ba. Ông đã tham gia và chỉ huy nhiều chiến dịch quan trọng trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ; trong đó có Chiến dịch Điện Biên Phủ (1954).

Đặc biệt, ông là một trong những vị tướng có nhiều công lao và kỷ niệm với Thủ đô Hà Nội từ những ngày đầu kháng chiến chống thực dân Pháp. Ông đã năm lần từ Hà Nội ra đi tham gia các trận chiến, rồi năm lần lại trở về Hà Nội.

Không chỉ có nhiều công lao trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, Trung tướng Vương Thừa Vũ còn cống hiến hết mình cho nền khoa học và nghệ thuật quân sự Việt Nam hiện đại.

Trong quá trình tổ chức chỉ huy chiến đấu, ông đã rút kinh nghiệm và tổng kết thực tiễn thành lý luận với những khái quát lý luận ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ. Ví dụ như, khi viết về dân quân miền biển và dân quân miền núi, trên cơ sở thói quen sinh hoạt đánh bắt cá, săn thú rừng của người dân, ông đã khái quát thành cách đánh giặc của dân, quân du kích địa phương: “Ví như bắt cá quây vùng/Lưới giăng, đón lõng rồi dùng đó đơm; “Ví như các tổ săn rừng/Lùng săn thú dữ bắt cùng mới thôi”; “Giằng co, luồn lủi khắp nơi/Trong ngoài cùng đánh, người người tiến công”…

Ông đã tổng kết và viết thành nhiều tài liệu có giá trị về nghệ thuật huấn luyện, quản lý bộ đội và tác chiến trên chiến trường, như: Hà Nội 60 ngày khói lửa; Những ngày ở chiến khu 2; Mấy vấn đề về quản lý bộ đội; Mấy kinh nghiệm huấn luyện quân sự; Kinh nghiệm chỉ huy chiến đấu; Cắt dạ dày Điện Biên Phủ; Trưởng thành trong chiến đấu; Những chặng đường chiến đấu…

Ông còn để lại hàng trăm trang bản thảo viết tay về quân, binh chủng cùng nhiều bài viết đăng trên các báo, tạp chí. Những tài liệu, công trình khoa học do ông viết đã giúp cho cán bộ các cấp trong toàn quân nghiên cứu vận dụng vào thực tiễn huấn luyện, chiến đấu.

Ông còn luôn nhắc cán bộ chỉ huy cấp dưới: “Ta phải biết dùng sức kết hợp với mưu mẹo." Ông nhấn mạnh: “Biết dùng mưu và nghi binh sẽ làm cho đối phương bị bất ngờ, mà một đội quân dù mạnh đến đâu, khi bị bất ngờ, nếu không tan rã thì cũng hoảng loạn lúng túng." Những tư tưởng, như “giữ bí mật, tạo bất ngờ, giành chủ động, đánh tiêu diệt” hay tư tưởng “một diệt, bốn cắt”… của ông đến nay vẫn được các thế hệ cán bộ quân đội tiếp tục nghiên cứu vận dụng và phát triển.

Người con ưu tú của Thủ đô Hà Nội

Trong cuộc đời binh nghiệp của mình, Trung tướng Vương Thừa Vũ có rất nhiều dấu son đáng nhớ đối với lịch sử thành phố Hà Nội. Ông từng là Tư lệnh mặt trận Hà Nội, Đại đoàn trưởng đầu tiên tiếp quản Thủ đô và Chủ tịch Ủy ban Quân chính trong ngày giải phóng 10/10/1954.

Tên tuổi của Trung tướng Vương Thừa Vũ gắn liền với chiến công vẻ vang trong cuộc chiến đấu 60 ngày đêm “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” của quân và dân Hà Nội, khởi đầu cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai ngày 19/12/1946.

Giữ trọng trách là Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội, với thế trận “trong đánh, ngoài vây” do ông đề xướng và nhiều cách đánh thiên biến vạn hóa của chiến tranh nhân dân, Chỉ huy trưởng Mặt trận Hà Nội Vương Thừa Vũ đã cùng quân dân Thủ đô lập nên kỳ tích: bằng một lực lượng vũ trang non trẻ, quân dân ta đã chiến đấu thắng lợi, tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch, giam chân đội quân chính quy đông khoảng 6.500 binh sỹ của Pháp trong thành phố suốt 60 ngày đêm (gấp đôi thời gian quy định), tạo điều kiện cho cả nước triển khai chiến lược trường kỳ kháng chiến cho đến ngày toàn thắng.

Hơn tám năm sau, trên cương vị Đại đoàn trưởng Đại đoàn 308, ông được cử làm Chủ tịch Ủy ban Quân chính cùng với Phó Chủ tịch Trần Duy Hưng đưa đoàn quân chiến thắng vào tiếp quản Thủ đô.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn