DANH TƯỚNG NGUYỄN HỮU DẬT: "VẠN LÝ TRƯỜNG THÀNH" CỦA ĐÀNG TRONG VÀ BIỂU TƯỢNG TRUNG NGHĨA
Người Con Đất Thanh Hóa Sớm Lộ Tài Năng Quân SựNguyễn Hữu Dật sinh năm 1603 tại huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Ông là con trai của quan Chưởng cơ Nguyễn Triều Văn – một vị công thần dũng mãnh đã tháp tùng chúa Tiên Nguyễn Hoàng vào miền Nam lập nghiệp.Thừa hưởng dòng máu võ tướng và tinh thần nghĩa khí từ người cha, từ thuở nhỏ ông đã học rộng, thông minh xuất chúng, làu thông kinh sử và thông tuệ binh pháp. Năm mới 16 tuổi, nhờ tài thao lược vượt tuổi tác, ông đã được chúa Sãi Nguyễn Phúc Nguyên đặc biệt mến mộ, triệu vào dinh phủ giao giữ chức Văn chức, giao trọng trách bám sát các kế hoạch bưu chính, quân sự cốt tử của dòng họ.
Người Kiến Tạo Lũy Thầy Và Chiến Thuật "Ẩn Hiện Như Thần"Giai đoạn lẫy lừng và vĩ đại nhất trong cuộc đời của Nguyễn Hữu Dật gắn liền với cuộc nội chiến Trịnh - Nguyễn khốc liệt vào thế kỷ XVII. Đối mặt với các binh đoàn thủy bộ khổng lồ, vũ khí tối tân của chúa Trịnh từ đàng Ngoài tràn vào đánh phá, ông đã sát cánh cùng thiên tài quân sự Đào Duy Từ vạch ra chiến lược phòng thủ vĩ đại:
Xây dựng Lũy Thầy (Lũy Trường Dục, Lũy Nhật Lệ): Ông trực tiếp chỉ đạo hàng vạn binh sĩ quai đê, đắp đất xây dựng nên hệ thống chiến lũy kiên cố bằng đất đá dài hàng chục cây số tại Quảng Bình. Hệ thống phòng thủ vĩ đại này được ví như "Vạn lý trường thành" của đàng Trong, chặn đứng hoàn toàn mọi đợt tiến công sấm sét của quân Trịnh suốt nửa thế kỷ.
Chiến thuật tâm lý và nghi binh thiên tài: Nguyễn Hữu Dật nổi tiếng với lối đánh "xuất quỷ nhập thần", công đồn, phục kích mưu trí. Có những trận chiến, ông cho dựng người bù nhìn cầm vũ khí trên chiến lũy để đánh lừa quân địch, hay dùng tiếng trống, tiếng kèn giả vờ tổng tấn công khiến quân Trịnh hoang mang, tự giẫm đạp lên nhau mà tháo chạy. Tài binh đao của ông khiến phủ chúa Trịnh đàng Ngoài vừa khiếp sợ vừa nể kính.
Tấm Lòng Trung Nghĩa Và Nhân Cách Cao ThượngKhông chỉ giỏi thao lược trên chiến trường, Nguyễn Hữu Dật còn là một bậc đại trượng phu có nhân cách cao thượng, trọng nghĩa khí.Có một giai đoạn lịch sử cam go, do bị kẻ xấu trong triều đình dèm pha, vu oan, ông bị chúa Nguyễn nghi kỵ và tống giam vào ngục tối. Đứng trước nghịch cảnh, ông không một lời oán hận hay có tư tưởng phản bội quay đầu phục vụ thế lực khác. Khi quân Trịnh nhân cơ hội tràn sang tấn công, chúa Nguyễn nhận ra sai lầm liền thả ông ra, Nguyễn Hữu Dật lập tức gác lại mọi hiềm khích cá nhân, hiên ngang vác súng ra trận chỉ huy bộ đội đánh tan quân thù. Tấm lòng thủy chung sắt son, "vị quốc vong thân" của ông đã khiến toàn bộ triều đình và trăm dân đều phải rơi lệ kính phục.Sau khi hòa bình tạm yên, ông được bổ nhiệm làm Trấn thủ Quảng Bình – cửa ngõ xung yếu nhất của đàng Trong. Tại đây, ông cởi bỏ áo phục, xắn quần lội ruộng cùng nông dân, dạy dân cách quai đê trị thủy, khai phá đất hoang để lập nên những làng ấp trù phú, được nhân dân yêu mến tôn kính gọi là "Bậc phụ mẫu của trăm dân".
Di Sản Lưu Danh Thiên CổDanh tướng Nguyễn Hữu Dật trút hơi thở cuối cùng vào năm 1681, hưởng thọ 78 tuổi. Khi ông mất, chúa Nguyễn vô cùng thương tiếc, ban tặng ông danh hiệu cao quý tột đỉnh, truy phong chức
Tuyên lực công thần, Đặc tiến Tráng vũ tướng quân, tước
Chiêu Quận công. Con trai ông sau này chính là
Lễ thành hầu Nguyễn Hữu Cảnh – vị danh tướng lẫy lừng có công lao vĩ đại khai phá, xác lập chủ quyền vùng đất Nam Bộ và Sài Gòn - Gia Định.Hơn 300 năm thăng trầm lịch sử trôi qua, di sản của Nguyễn Hữu Dật vẫn vững chắc cùng non sông đất nước.
Nơi an nghỉ tôn nghiêm: Hiện nay, Lăng mộ và đền thờ danh tướng Nguyễn Hữu Dật tại huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình đã được xếp hạng là Di tích lịch sử - văn hóa cấp quốc gia, luôn nghi ngút khói hương của hậu thế đến chiêm bái, tri ân.
Sự tri ân vĩnh cửu: Để ghi nhớ công ơn sâu dày của ông, tên của Nguyễn Hữu Dật được trân trọng đặt cho các ngôi trường học công lập khang trang và những tuyến đại lộ, con phố sầm uất bậc nhất tại trung tâm Quận Bình Tân (Thành phố Hồ Chí Minh), Thủ đô Hà Nội, Đồng Hới (Quảng Bình), Đà Nẵng, Cần Thơ,... như một lời khẳng định: Tấm lòng trung nghĩa và chí khí hiên ngang của vị khai quốc công thần Nguyễn Hữu Dật sẽ còn sống mãi cùng dân tộc muôn đời sau.