Bài viết

ĐÁNH ÚP BAN MÊ THUỘT

Lạng Sơn02/07/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Cuối tháng 11/1974, chúng tôi được lệnh hành quân về phía tây sông Pô Cô, mọi trang bị cá nhân và của toàn đơn vị phải mang đi hết, như vậy có nghĩa là không quay lại nơi này, còn đi đâu thì không được biết. Đêm hôm đó toàn Trung đoàn ngủ lại chân núi 830, gần Ple – Lăng – Lố – Kram, nơi những năm trước đây chúng tôi thường qua lại. Vài ngày sau chúng tôi mới được biết là hành quân sâu vào phía nam Tây Nguyên.

Tạm biệt chiến trường Kon Tum, nơi đã từng gắn bó với chúng tôi những năm dài đánh giặc. Tôi có ngờ đâu mãi 20 năm sau, năm 1992 tôi mới có dịp trở lại Đắk Tô, Tân Cảnh trong một chuyến đi công tác cùng Đoàn đại biểu của Ủy ban Thanh Thiếu nhi của Quốc hội. Rồi 12 năm sau nữa, năm 2004, tôi lại vào Kon Tum khảo sát xây dựng Làng Thanh niên lập nghiệp biên giới. Lần này tôi tìm đường ra sân bay Phượng Hoàng, bây giờ sân bay chỉ là một bãi thao trường luyện tập của bộ đội. Từ sân bay, tôi dễ dàng tìm thấy cao điểm 715 xưa. Đứng trên mảnh đất máu lửa năm xưa, tôi biết rằng, dưới những vạt rừng quanh đây, còn bao hài cốt chiến sĩ ta chưa được phát hiện, tìm kiếm.

Từ thị xã Kon Tum lên Đắc Tô – Tân Cảnh, cảnh vật đổi thay khá nhiều, khu vực Bãi Ủi, Võ Định, cống Ba lỗ, tranh chấp tan hoang ngày nào, nay nhà cửa san sát, rừng cà phê, cao su xanh bạt ngàn. Tôi chỉ còn nhận ra các cao điểm 751 và dãy Ngọc Bờ Biêng xa mờ. Xã Diên Bình vẫn yên ả như xưa, thị trấn Tân Cảnh nhộn nhịp hàng quán và rất nhiều sâm Ngọc Linh “dởm”. Sân bay Đắc Tô giờ có một đơn vị thuộc Quân đoàn III đóng. Qua cầu Đắc Mót vẫn thấy cái nhà rông tại vị nguyên chỗ cũ, chỉ có điều mới hơn. Đường Hồ Chí Minh giai đoạn một đã làm xong tới Thị trấn Plây Cần. Tôi tranh thủ vào thắp hương nhà bia ghi danh các liệt sĩ. Khi ghé qua Tân Cảnh, tôi tranh thủ chụp hình bên chiếc xe tăng 377 anh hùng. Đợt đi đó, tôi chỉ đạo chọn khu vực vùng đệm vườn quốc gia Chư Mom Ray để đầu tư xây dựng Làng TNLN. Bây giờ nơi đó đã trở thành một nông trường cao su điển hình của Tổng đội TNXP tỉnh Kon Tum

Ngày hôm sau, toàn đơn vị lên xe cơ giới nhằm phía nam mà tiến. Trên đường đi, chúng tôi nhận thấy từng đoàn xe vận tải, xe tăng, xe kéo pháo các loại bám đuôi nhau hành quân trên con đường công binh mới mở. Những đoạn qua nơi trống trải, người ta dựng dàn như dàn mướp ngụy trang cho mặt đường. Rồi chúng tôi xuyên sang đất Lào, gặp cao nguyên A –Tô- Pư. Đêm ngủ lại dưới tán rừng cây khộp với mặt đất phủ đầy loại cỏ mịn vàng. Nằm võng ngắm trăng tròn giữa tháng, tôi thầm nghĩ, giá như nơi đây, sau này trở thành một nông trường thì tuyệt đẹp.

Lặng lẽ, bí mật hành quân chừng nửa tháng, chúng tôi dừng chân tại khu vực suối Đắk Đam, ranh giới giữa Việt Nam – Căm Pu Chia và đón tết 1975 ở đó. Đây là cái tết thứ tư tại chiến trường, đơn giản và chóng vánh. Nơi chúng tôi đóng quân là một khu rừng khộp bằng phẳng, xen kẽ những bụi le gầy và cỏ mịn, có đường ống dẫn dầu của ta đi qua. Một hôm máy bay địch ném bom trúng đường ống gây cháy dữ dội, cả đơn vị phải tham gia dập lửa. Sau tết chúng tôi lên đường đi trinh sát, trước khi đi, Trung đoàn trưởng Trương Tăng Thái trực tiếp gặp chúng tôi giao nhiệm vụ, yêu cầu bí mật tuyệt đối, đặc biệt không được mang theo thư tín, địa chỉ đơn vị, gia đình và quê hương.

Mục tiêu trinh sát đầu tiên là căn cứ Núi lửa – Đức Lập, sau chuyển sang khu vực sát phía tây thị xã Ban Mê Thuột. Cả tháng trời chúng tôi lặn lội xuyên rừng, leo trèo, bắc dàn đặt máy phương hướng bàn trên những ngọn cây cao nhất để giao hội vào từng mục tiêu. Rừng nơi đây khác hẳn với Kon Tum, bằng phẳng, toàn cây khộp và bụi le gầy, thi thoảng có một ngọn đồi thấp nhô lên với toàn đá đen xì. Thú rừng nhiều lắm, có hôm gặp cả đàn bò tót chạy ầm ầm, cả đôi chim công xòe đuôi múa rất đẹp, khiến chúng tôi ngẩn ngơ chiêm ngưỡng. Tây Nguyên đang mùa khô nên thật khắc nghiệt, có ngày đi cả buổi mới lấy được bi đông nước từ vũng nước đục ngàu in đầy dấu chân thú rừng, nhưng ở các khe suối cạn lại có rất nhiều cua đá và rùa vàng.

Quá trình làm nhiệm vụ, không ít lần chúng tôi gặp những tình huống khá bất ngờ. Một lần chúng tôi đang nghỉ trưa bóc lương khô ăn bên một khe cạn thì đột nhiên thấy đoàn xe “bò vàng” vào rừng khai thác gỗ. Tất cả lên đạn sẵn sàng vì sợ địch cải trang dân vào rừng dò la tin tức. Không thấy gì khả nghi và hình như họ cũng chưa nhìn thấy nên chúng tôi lặng lẽ tránh. Thế nhưng ở mũi trinh sát khác, vì hai bên đã trông thấy nhau nên quân ta buộc phải giữ dân lại để bảo đảm bí mật, sau chiến dịch mởi thả họ về.

Có một hôm, tôi đang vắt vẻo trên ngọn cây săng lẻ cao ngất, chờ anh em bên dưới buộc cành cây cưa sẵn vào dây dù để tôi kéo lên, làm dàn đo máy phương hướng bàn thì nghe tiếng sột soạt bên dưới. Tôi nhìn xuống thấy một đàn voi đi qua gốc cây mình trèo, trên lưng voi là những quản tượng đóng khố. Tôi nép mình vào cành lá nín thở, quan sát sợ rằng có thám báo đi cùng phát hiện ra thì hết đường chạy thoát. Rất may đoàn voi đi qua vô sự, chắc họ không thấy chúng tôi. Lúc xuống đất, tôi trách anh em tại sao không báo động cho tôi biết, mọi người chống chế rằng bất ngờ quá, mà cũng không biết bằng cách nào báo vì tôi ngồi trên cây cao quá. Thật hú vía bởi trước đây, C17 đã có hai trường hợp là anh Cách bị kẻ lạ tưởng là khỉ bắn chết và rơi từ trên cây xuống, rồi cậu Hoan bị trực thăng phát hiện bắn trúng khi đang tụt từ ngọn cây xuống hầm trú ẩn .

Trên đường trinh sát, chúng tôi nhiều lần phát hiện dấu hiệu bẻ cây đánh dấu khác thường của thám báo Ngụy. Gặp tình huống đó, chúng tôi nhanh chóng cắt đường để tránh tao ngộ chiến. Đánh nhau lúc này không phải là nhiệm vụ của trinh sát. Khó khăn nhất cho tác nghiệp lại là những hôm nhiều gió, phải ngồi hàng giờ trên ngọn cây, chờ lặng gió mới đo chính xác được vật chuẩn mà đồng đội dựng trên ngọn cây cách xa chừng bốn năm cây số. Khi giao hội vào một số chốt của địch ở Bản Đôn, tôi đâu có biết đó là một địa danh nuôi voi nổi tiếng của Tây Nguyên. Phải gần ba mươi năm sau, trong lần đi chỉ đạo xây dựng Làng Thanh niên lập nghiệp tại Ya Mơ, tôi mới có dịp được đến Bản Đôn, được cưỡi lên lưng voi nổi tiếng của cao nguyên hùng vĩ ấy.

Sau đợt trinh sát Ban Mê Thuột về, hai bộ tô châu mới của tôi đều tơi tả vì leo trèo trên ba chục cây khộp, một loài cây họ dầu, lá to, thân xù xì thô ráp. Tự kiểm điểm mức độ hoàn thành nhiệm vụ, tôi vô tư khai báo đã ăn quá tiêu chuẩn một bánh lương khô vì đói, thế là đại đội trưởng Vinh phê bình và đề nghị hạ cấp từ tặng bằng khen xuống giấy khen cho tôi

Có một sự kiện động trời mà mãi sau này được ra Bắc tôi mới biết. Đó là chuyện bà chị con ông bác tôi, công tác ở một cơ quan ở Trung ương kể lại. Một lần mở đài địch, tình cờ chị thấy chúng loan tin: “ Nguyễn Việt Phát, con ông Nguyễn Văn Sen, quê 32B Tam Trung, thị xã Cao Bằng…đã chiêu hồi chính phủ Quốc gia”. Nghe đi nghe lại biết là đúng em mình, chị liền viết thư lên Cao Bằng hỏi xem lâu nay mình có viết thư về không. Gia đình trả lời khá lâu rồi không thấy thư của tôi, chị càng lo lắng. Lúc đó ta chuẩn bị đánh Ban Mê Thuột. Lục lại trí nhớ, tôi cho rằng, sở dĩ bọn địch biết tôi rõ như vậy, chắc là chúng nhặt được quyển bảng bắn Loogarit của tôi đánh rơi trong chuyến đi trinh sát Ban Mê Thuột. Và trong bìa bọc bằng ninol cuốn sổ ấy, có bản khai lý lịch xin vào Đảng, mà tôi vô tình không nhớ để cất đi chỗ khác trước khi ra trận. Thật may tôi trở về lành lặn, giả sử tôi mất tích ở đâu đó, chắc gia đình, họ hàng phải chịu oan suốt đời.

Sau thời gian chuẩn bị,đêm 9 rạng ngày 10/3/1975 ta tiến công Ban Mê Thuột.Đêm đó chúng tôi hành quân sớm, dọc đường hành quân chúng tôi vừa đi vừa ngủ gật, hai mắt díu lại, sau mỗi lúc nghỉ giải lao, mọi người phải lay nhau dậy để đi tiếp. Để tránh lạc đường, chúng tôi đều dán một miếng lân tinh sau ba lô để người sau dễ nhận biết. 12 giờ đêm chúng tôi đến gần chân núi Chư Duê, cách Kho Mai Hắc Đế non cây số và ém mình vào khe cạn, gốc cây, bụi cỏ chờ giờ G. Tất cả chìm trong im lặng. Đúng 2 giờ 30 phút, pháo binh ta từ hướng sông Sê Rê Pốc bắn dồn dập, đạn pháo bay qua đầu chúng tôi sáng rực trời. Sau đó là xe tăng ta đồng loạt rồ máy, cán đổ những cây rừng mà công binh cưa sẵn một nửa để che mắt địch, bất ngờ ập vào căn cứ tổng kho Mai Hắc Đế.

Gần sáng, chúng tôi theo chân bộ binh lao lên chiếm đỉnh Chư Duê. Khi băng qua chiến hào của địch, tôi thấy xác địch ngổn ngang, có thằng chết mà chưa kịp nhắm mắt. Rồi chúng tôi nhanh chóng chọn nơi đặt máy quan trắc. Một mỏm đồi nhỏ, nhưng quá đông bộ đội nên cảnh tượng lố nhố. Bỗng bọn địch từ chân đồi dùng trọng liên 20 ly bắn lên, khiến mọi người bất ngờ và có phần hoảng loạn. Đơn vị bộ binh dưới chân đồi lập tức ào tới, xóa xổ ổ đề kháng đó của địch. Mặc dù có máy viễn vọng kính phóng đại 40 lần, nhưng bằng mắt thường, tôi thấy rõ xe tăng ta quay nòng pháo về phía sau húc đổ cổng kho Mai Hắc Đế, dẫn bộ binh ta xông lên, cảnh tượng giống như một cuốn phim.

Đến gần trưa thì quân ta làm chủ khu kho Mai hắc Đế và vùng xung quanh. Máy bay địch lồng lộn thả bom bừa bãi, khiến bom rơi cả vào sở chỉ huy của địch. Cao xạ 37 ly của ta bắn trả quyết liệt hất chúng ra xa. Một số khu vực trong thị xã và sân bay Hòa Bình địch đang chống trả quyết liệt. Càng về trưa trời càng nắng gay gắt khiến mọi người khát khô miệng, đơn vị cử người xuống chân đồi chặt mía về cho anh em giải khát.

Sáng hôm sau, tiếng súng đã im dần trong thị xã, tôi và một số anh em tìm đường vào trung tâm Sư đoàn 23 ngụy để thu chiến lợi phẩm. Sau khi băng qua ngã Sáu, vượt qua một loạt doanh trại và xác địch còng queo, đen cháy ngổn ngang dọc đường, chúng tôi tìm được khu kho hậu cần. Lần đầu tiên được thấy một kho đường sữa khổng lồ như vậy, tôi dùng dao găm rạch một bao đường, hứng vào ba lô và nhét thêm hơn chục hộp sữa cho đầy. Khi ra cửa, thấy một đôi giày da sĩ quan mới bóng, tôi nhặt liền. Lúc này đơn vị đang tập kết tại một cánh rừng khộp ngoài khu kho Mai Hắc Đế, đề phòng Mỹ lại dùng B52 trải thảm hủy diệt như hồi đánh thị xã Kon Tum năm 1972.

Khi chúng tôi gùi lặc lè chiến lợi phẩm về tới nơi thì nhóm của Trung đội trưởng Lê Xuân Hạnh bắt được một tù binh giải về. Lúc đầu tên tù binh sợ ta bắn nên van xin liên tục và không chịu ăn uống gì. Sáng hôm sau đói quá hắn ngỏ ý xin ăn. Thấy chúng tôi đối xử tử tế, hắn bình tĩnh trở lại và khai là quê Sài Gòn, tên là Lê Gia Công, sinh viên đại học Luật năm thứ ba, mới đi lính nhưng được đeo lon trung úy và được phiên chế về đơn vị thám sát, chuyên chặn bắt sóng vô tuyến điện của ta. Nhận định tên tù binh này quan trọng, Đại trưởng Vinh trực tiếp lấy cung. Qua thẩm vấn, tên tù binh cho rằng đây chỉ là trận đánh nhỏ, vì theo mật mã chúng dịch được từ sóng điện vô tuyến thì Sư đoàn 316 và các đơn vị chủ lực của ta đang chuẩn bị đánh lớn ở Kon Tum và Play Cu, toàn bộ Sư đoàn 23 của chúng đã hành quân lên đó để ứng chiến. Tên tù binh còn nói nếu sư 23 ở nhà thì ta khó đánh nổi Ban Mê Thuột. Là người lính, chúng tôi đâu có biết mưu kế lừa địch của ta lúc đó mà chỉ lơ mơ biết rằng, trước khi hành quân vòng sang đất bạn áp sát Ban Mê Thuột, Trung Đoàn 40 có để lại một số đơn vị nhỏ nghi binh kiểu lập trận địa pháo giả, dùng bộc pháo nổ cầm chừng như mọi bận vậy thôi. Nhưng với hàng chục ngàn bộ đội, tăng pháo rầm rầm, chuẩn bị cả tháng trời đánh Ban Mê Thuột là vậy, mà kẻ địch không hề hay biết thì quả là quá tuyệt vời về công tác nghi binh và giữ bí mật.

Sau khi tên tù binh đã hoàn hồn, tỉnh táo, tôi tò mò hỏi nếu sau này hết chiến tranh thì làm gì. Hắn trả lời sẽ học tiếp trường luật và làm thương gia vì cả gia đình là thương gia. Tôi lại hỏi hắn biết gì về Miền Bắc XHCN. Hắn thận trọng trả lời rằng trong trường Luật cũng được nghiên cứuqua về chủ nghĩa cộng sản. Hắn cho rằng, mô hình ấy có nhiều điểm hay, nhưngnếu ông Máx có sống lại thì hắn ta sẵn sàng tranh luận rằng, nếu một xã hội không còn buôn bán, không còn tiền tệ thì xã hội không còn lý do tồn tại nữa. Tôi cũng chẳng dám tranh luận thêm vì thực ra mình có hiểu lắm đâu về vấn đề trìu tượng, to tát ấy. Mãi sau này, khi đất nước đã bước sang thời kỳ đổi mới, tôi mới có dịp nghiệm lại lời viên trung úy tù binh ngày ấy, thấy hắn nói có điểm có lý. Thế rồitên tù binh đó được giao cho cấp trên, trước khi người của trên xuống áp giải anh ta đi, tôi còn tranh thủ dặn với rằng dọc đường không nên đối xử tệ với anh ta. Không biết số phận người tù binh ấy bây giờ ra sao.

Vài ngày sau, chúng tôi lên xe cơ động về Khánh Dương chuẩn bị đánh địch nhảy dù hòng tái chiếm Ban Mê Thuột. Trước khi đi, chúng tôi cứ ngỡ sẽ còn quay lại nơi này nên cất dấu lại khá nhiều thứ cho ba lô gọn nhẹ. Dọc đường gặp từng toán tàn quân ngụy quần áo xộc xệch, đói khát, kéo lê trên đường và xin ăn. Chúng tôi đành bớt khẩu phần lương khô của mình dành cho họ và dặn họ nên trở về gia đình, ra trình diện chính quyền cách mạng.

Đánh địch đổ quân ở đèo Phượng Hoàng xong, cả Trung Đoàn hành tiến xuống Phan Rang đánh địch tháo chạy. Mũi của anh Tâm gọi pháo bắn vào Vịnh Cam ranh khiến tàu há mồm của địch không thể vào được bờ để bốc tàn binh. Ba ngày sau, toàn Trung Đoàn nhận lệnh quay trở lại Ban Mê Thuột để xuôi theo đường 14 tiến về Sài Gòn. Lúc này tin thắng trận khắp nơi dồn dập báo về. Cả Trung đoàn tạm trú quân trong một đồn điền cà phê ven đường 14. Mỗi thân cây cà phê cao vài ba mét, lá to, quả chín mọng đỏ au. Chúng tôi thi nhau vặt cà phê, đổ vào mũ sắt của ngụy dã nhừ vỏ, lấy hạt cho vào nồi quân dụng ninh nhừ như nấu bánh trưng. Khi nồi cà phê đã chuyển màu đen, sền xệt, bỏ vài cân đường và sữa chiến lợi phẩm vào rồi dùng ca Mỹ múc ra húp xì xụp. Tối đó cả đơn vị trợn tròn mắt lên không tài nào ngủ được. Thì ra lúc này mới biết thế nào là cà phê Ban Mê Thuột, còn kiểu uống cà phê như thế chắc chỉ đời lính chúng tôi mới có.

Những năm sau này tôi có nhiều lần trở lại Đăk Lắc công tác. Có lần tôi nhờ anh em Tỉnh đoàn đưa tôi đến tận núi Chư Duê để nhớ lại cái ngày 10/3/1975 ấy. Tôi còn kể cho họ nghe câu chuyện về viên Trung úy tù binh tên Công cũng như chuyện dấu tạm 10 hộp sữa và đôi giày sĩ quan Mỹ đen bóng dưới một gốc cây khộp to đùng ven khu kho Mai hắc Đế mà không có dịp quay lại lấy.

Xe tăng T54 tiến vào Kho Mai hắc

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn