DANH Y TUỆ TĨNH – ÔNG TỔ THUỐC NAM
Tuệ Tĩnh tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh, pháp hiệu là Tuệ Tĩnh thiền sư, biệt danh là Hồng Nghĩa; người làng Nghĩa Phú, xã Cẩm Vũ, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương. Ông được hậu thế suy tôn là “Thánh y”, là ngôi sao sáng khởi dựng truyền thống của ngành thuốc Nam của dân tộc. Ông đồng thời cũng trở thành biểu tượng, để lại dấu ấn sâu đậm trong lịch sử y học cổ truyền Việt Nam.


Tuệ Tĩnh (tên thật là Nguyễn Bá Tĩnh) sinh ra vào khoảng năm 1330 tại làng Nghĩa Phú, tổng Văn Thái, phủ Thượng Hồng (nay thuộc huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương).
Ông mồ côi cả cha lẫn mẹ từ sớm. Được người chú nuôi dưỡng và cho đi học. Nguyễn Bá Tĩnh bộc lộ tư chất thông minh, học hành xuất sắc và có chí lớn. Ông dự định theo đuổi con đường khoa cử để làm quan giúp dân.
Tuy nhiên, cuộc đời ông rẽ sang một hướng khác. Sau khi thi Hương đỗ Giải nguyên, ông quyết định từ bỏ danh vọng chốn quan trường, xuất gia đầu Phật.

Chùa Giám (Hải Dương), nơi mà Thiền sư Tuệ Tĩnh đã từng hành nghề thuốc để cứu người
Khi xuất gia, ông lấy pháp hiệu là Tuệ Tĩnh. Ông vừa nghiên cứu sâu về Phật học, vừa chuyên tâm vào y học cổ truyền.
Tuệ Tĩnh nhận thấy rằng, người dân Việt Nam thường bị bệnh tật mà không có đủ điều kiện để chữa trị bằng các loại thuốc quý hiếm từ phương Bắc (Trung Quốc). Với tấm lòng từ bi và y đức cao cả, ông quyết tâm nghiên cứu và phát triển nguồn thuốc chữa bệnh sẵn có trong nước.
Phương châm nổi tiếng của ông là: "Nam dược trị Nam nhân" (Thuốc Nam chữa người Nam).
Tuệ Tĩnh đã dành cả cuộc đời mình để đi khắp nơi, tìm hiểu, trồng trọt, bào chế và thử nghiệm các loại cây cỏ, khoáng vật, và động vật làm thuốc. Ông đã biến những loại cây quen thuộc trong vườn nhà, bờ ruộng thành các vị thuốc hiệu nghiệm.
Ông không chỉ chữa bệnh mà còn tổng hợp, hệ thống hóa kiến thức y học dân gian thành sách vở, đặt nền móng vững chắc cho nền y học cổ truyền Việt Nam.
• Bộ sách nổi tiếng nhất là Nam Dược Thần Hiệu (Thuốc Nam có công hiệu thần kỳ), ghi lại công dụng, cách sử dụng của hàng trăm vị thuốc Nam.
• Bộ sách thứ hai là Hồng Nghĩa Giác Tư Y Thư (Tập sách về y học Hồng Nghĩa), bao gồm các bài thuốc, phương pháp trị bệnh và lý luận y học độc đáo của riêng ông.
Ông được xem là người đầu tiên đưa ra những lý luận khoa học có hệ thống về cách dùng thuốc Nam, cách phòng bệnh và chữa bệnh bằng phương pháp dân gian.
Vào cuối đời (khoảng năm 1385), thời vua Trần Phế Đế, Tuệ Tĩnh bị bắt buộc phải sang Trung Quốc (triều Minh) để chữa bệnh cho các quý tộc và vua chúa bên đó.
Tại đây, tài năng y thuật của ông được vua Minh rất trọng vọng và giữ lại, phong cho ông là “ Đại Y thiền sư”. Mặc dù ở xa quê hương, Tuệ Tĩnh vẫn không quên cống hiến cho y học. Ông tiếp tục nghiên cứu, viết sách và giảng dạy y thuật. Ông qua đời tại Trung Quốc, hưởng thọ khoảng 86 tuổi.
Tuệ Tĩnh xót thương cho số phận của mình và luôn đau đáu nỗi niềm một ngày được quay lại quê hương, thoát khỏi cảnh đất khách quê người thể hiện qua việc ông đã khóc trong lễ nhậm chức của mình tại triều đình nhà Minh và cho tới ngày nay, trên bia mộ của ông vẫn còn dòng chữ "Ai về nước Nam cho tôi về với".
Năm 1690 tiến sĩ Nguyễn Danh Nho đi sứ sang Trung Hoa, tình cờ thấy mộ Tuệ Tĩnh, nhận ra là người cùng làng. Cảm động với lời nhắn gửi thiết tha của vị danh y, tiến sĩ Nguyễn Danh Nho đã sao chép bia mộ và tạc khắc bia đá mang về quê Hải Dương bây giờ.
Tuệ Tĩnh không chỉ là một danh y mà còn là một nhà văn hóa. Ông là tấm gương sáng về y đức, sự tận tâm vì người nghèo khó và lòng yêu nước thể hiện qua việc nâng niu, phát huy giá trị của Nam dược.
• Ông được nhân dân tôn kính gọi là "Ông tổ thuốc Nam" và "Thần y".
• Các nhà thuốc, bệnh viện Y học cổ truyền Việt Nam ngày nay vẫn lấy học thuyết và các bài thuốc của ông làm cơ sở.
Danh y Tuệ Tĩnh đã để lại di sản vô giá, không chỉ về y thuật mà còn về tinh thần độc lập, tự cường trong y học, khẳng định rằng Việt Nam hoàn toàn có thể tự chủ trong việc chăm sóc sức khỏe cho nhân dân bằng chính nguồn tài nguyên thiên nhiên của mình.
Hành trình đúc kết tri thức y học
Tuệ Tĩnh sinh ra vào thế kỷ 14, một thời kỳ mà y học truyền thống Việt Nam đang phát triển mạnh mẽ. Từ những ngày thơ ấu cơ cực, mồ côi cha mẹ ở tuổi lên 6, Nguyễn Bá Tĩnh đã được sự bảo bọc, nuôi dưỡng bởi các nhà sư tại chùa Hải Triều ở Yên Trang (sau có tên là Nghiêm Quang tự, tức chùa Giám, xã Cẩm Sơn, huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương ngày nay) và chùa Giao Thủy ở Sơn Nam (Nam Định) đưa về cho học với các sư tăng chùa Dũng Nhuệ, chùa Keo (Thái Bình). Tại đây, ông được đặt pháp danh là Tiểu Huệ, biệt danh là Huệ Tĩnh, bắt đầu chuyên chú vào việc học chữ và học cả nghề thuốc để giúp việc chữa bệnh cho dân nghèo trong vùng.

Tương truyền, đây là tượng tạc chân dung Thiền sư Tuệ Tĩnh. Ảnh: Tư liệu
Vốn là người thông minh, ham học, năm 22 tuổi, dưới triều vua Trần Dụ Tông, niên hiệu Thiệu Phong 11 (1351), ông đã xuất sắc vượt qua kỳ thi Thái học sinh, một bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời ông. Tuy nhiên, thay vì bước vào con đường làm quan, Nguyễn Bá Tĩnh chọn lối sống tu tập tại chùa Nghiêm Quang, nhận pháp hiệu là Tuệ Tĩnh, và dành trọn vẹn thời gian để nghiên cứu giáo lý, lấy vườn chùa làm nơi sản xuất thuốc và chữa bệnh cho nhân dân.
Năm Giáp Tý (1384), vua nhà Trần phái Tuệ Tĩnh đi sứ nhà Minh. Lúc đó, Hoàng hậu nhà Minh đang mắc chứng hậu sản, các thầy thuốc đều không chữa khỏi. Tuệ Tĩnh đã dùng thuốc Nam chữa khỏi căn bệnh. Khâm phục tài năng của ông, vua Minh đã phong cho Tuệ Tĩnh làm “Đại y Thiền sư” và cũng từ đây, nhà Minh đã giữ ông ở lại Kim Lăng. Một thời gian sau, ông mất tại Giang Nam.
Theo truyền ngôn, lúc lâm chung, Đại danh y - Thiền sư Tuệ Tĩnh có trăng trối rằng: “Về sau có ai bên nước Nam sang, nhớ cho hài cốt tôi về với”. Gần ba trăm năm sau, Tiến sĩ Nguyễn Danh Nho là người cùng làng Nghĩa Phú được nhà vua cử đi sứ Trung Quốc. Khi đi qua mộ Tuệ Tĩnh đã cho người dập bia, về nước thuê thợ khắc bia rồi cho về quê. Tiến sĩ Nguyễn Danh Nho đã cùng dân làng Nghĩa Phú dựng đền thờ Tuệ Tĩnh tại quê nhà để ghi nhớ công lao Đại danh y - Thiền sư đã trọn đời hy sinh vì sự nghiệp cao cả chữa bệnh cứu người.
Những đóng góp cho nền y học cổ truyền
Sự nghiệp của Tuệ Tĩnh chủ yếu được thể hiện trong lĩnh vực y dược học. Các học giả và giới Đông y đều thừa nhận, dù ông sống ở thế kỷ nào thì ông vẫn là một thầy thuốc và nhà dược học vĩ đại. Ông là một Đại danh y Việt Nam đã mở đường cho sự nghiên cứu thuốc Nam, xây dựng nền móng cho y học dân tộc.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Với niềm tự hào dân tộc chân chính và tình yêu thương con người tha thiết, ông mang hết tâm và trí vào sự nghiệp nghiên cứu y dược dân tộc mong cứu con người thoát khỏi bệnh tật. Ông nói: "Muốn giúp dân sinh, trước tìm vị thuốc”. Mặc dù đỗ đạt, Tuệ Tĩnh không ra làm quan, mà đi tu ở chùa Nghiêm Quang chuyên tâm nghiên cứu y dược, tìm những phương thuốc đặc hiệu phù hợp với hoàn cảnh thiên nhiên, đất nước. Những loại cây cỏ thông thường mọc ở các vùng quê, ông đã chế ra nhiều bài thuốc Nam hữu dụng.

Bìa cuốn sách “Nam dược thần hiệu” của Thiền sư Tuệ Tĩnh. Ảnh: Tư liệu
Những người dân nghèo ốm đau, bệnh tật đã được cứu chữa nhờ những bài thuốc của ông. Không chỉ nghiên cứu y dược chữa bệnh cho người dân, ông còn truyền dạy cho họ cách kiếm các loại cây chữa những bệnh thông thường, trồng trong vườn nhà, chùa làng để sử dụng khi cần thiết. Ông cũng hướng dẫn mọi người cách phòng tránh bệnh tật để có sức khỏe tốt.
Ngoài y dược phục vụ con người, Tuệ Tĩnh còn tập hợp những bài thuốc chữa bệnh cho gia súc, phục vụ sản xuất, đặt cơ sở cho ngành Thú y dân tộc. Toàn bộ công trình nghiên cứu của ông được biên tập và soạn thành sách tiêu biểu như "Dược tính chỉ nam", "Thập tam phương gia giảm". Hiện bản nguyên tác của ông không còn trọn vẹn, những bản hiện còn do người đời sau ghi chép qua truyền khẩu dân gian như "Nam dược thần hiệu", Hồng Nghĩa giác tư y thư...
Các cuốn sách này đánh dấu sự phát triển vượt bậc trong lĩnh vực y học thời bấy giờ. Các tác phẩm y học của ông gần 700 năm trước đã góp phần quan trọng vào việc bảo tồn và phát triển y học cổ truyền Việt Nam, được coi là bách khoa toàn thư về y học cổ truyền. Trong mỗi phương thuốc, ông đều ghi rõ công thức và cách dùng gia giảm như thế nào cho phù hợp. Phần lớn các tác phẩm của Tuệ Tĩnh được viết bằng thơ, trong đó một phần bằng chữ quốc âm nên mọi người dễ đọc, dễ nhớ và dễ hiểu.
Các công trình này không chỉ chứa đựng tri thức về chẩn đoán và điều trị bệnh mà còn đề cập đến những lời khuyên về cách sống lành mạnh, chế độ ăn uống. Đây là một cách tiếp cận y học toàn diện, kết hợp giữa việc chữa bệnh và phòng bệnh. Ông cũng đặc biệt chú trọng đến việc điều trị căn nguyên của bệnh tật chứ không chỉ triệu chứng, một nguyên tắc cơ bản của y học hiện đại ngày nay.
Chính vì vậy, ông được tôn vinh là "Ông Tổ - vị Thánh thuốc Nam" hay "Thánh thuốc Nam", được nhân dân nhiều nơi phụng thờ. Đặc biệt, ông cùng với Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác được thờ tại Y miếu Thăng Long - Hà Nội, nơi giữ gìn, tưởng niệm những giá trị sâu sắc của Nho y Đại Việt. Sự nghiệp và tư tưởng của Thiền sư Tuệ Tĩnh đã vượt qua ranh giới thời gian, trở thành ngọn đuốc soi đường cho những vị bác sĩ, những tài năng y học đang ngày đêm chữa bệnh, cứu người.

Thiền sư Tuệ Tĩnh được mệnh danh là "ông tổ" thuốc Nam.



