Khác

Đảo đảm hậu cần trận quyết chiến chiến lược Chi Lăng - Xương Giang

Đoàn Lê Uyên Nhi

Bắc Ninh13/08/2026phường Ngô Quyền (phường Ngô Quyền)7 lượt xem0 lượt chia sẻ

Chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang cùng với chiến thắng Bạch Đằng, Đống Đa... là những chiến công oanh liệt nhất trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc ta, đánh dấu sự phát triển vượt bậc về nghệ thuật tác chiến và công tác bảo đảm hậu cần cho trận quyết chiến chiến lược, kết thúc thắng lợi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, đồng thời chấm dứt ách đô hộ 20 năm của nhà Minh.

Sau một thời gian tích cực chuẩn bị đầy đủ về mọi mặt, đến giữa năm 1426, Lê Lợi và Nguyễn Trãi quyết định mở cuộc tiến công tiêu diệt quân Minh. Tháng 9-1426, Lê Lợi phái ba đạo quân từ Thanh Hoá, Nghệ An ra giải phóng các vùng xung quanh Đông Quan (Hà Nội). Trước tình thế đó, quân Minh tìm cách hòa hoãn, cho người về nước cầu cứu viện binh sang đối phó với nghĩa quân Lam Sơn. Tháng 10-1426, trên 10.000 quân viện binh do Vương An Lão chỉ huy theo đường Vân Nam tiến vào nước ta, bị quân ta chặn đánh ở cầu Xa Lộc, tiêu diệt hơn 2.000 tên, số còn lại chạy vào thành Tam Giang (Việt Trì, Phú Thọ) cố thủ. Ngày 31-10-1426, trên 50.000 quân viện binh cùng 5.000 ngựa chiến do Vương Thông chỉ huy tràn qua Lạng Sơn tiến về Đông Quan. Quân Minh ở thành Đông Quan lên tới hơn 100.000 tên (gồm quân của Trần Trí ở đây từ trước, quân của Phương Chính và Lý An từ Nghệ An chạy ra, quân của Vương Thông mới sang); Vương Thông được cử làm Tổng binh thay Trần Trí. Nhằm xoay chuyển tình thế, Vương Thông mở cuộc phản công lớn xuống phía Tây Nam Đông Quan, nhưng bị nghĩa quân Lam Sơn tiêu diệt hơn 50.000 quân, bắt sống hơn 10.000 tên (trong trận Tốt Động – Chúc Động); Vương Thông bị thương, Thượng thư Trần Hiệp, nội quân Lý Lượng bị chết tại trận. Vì vậy, quân Minh buộc phải chuyển sang phòng ngự và bị vây hãm chặt tại thành Tây Đô (Thanh Hóa), Cổ Lộng (Ý Yên, Nam Định), Chí Linh (Hải Dương)...

Ngày 31-1-1427, nhà Minh đưa thêm 150.000 quân và hơn 30.000 ngựa chiến, chia làm hai đạo quân, tiếp viện cho Vương Thông. Đạo thứ nhất, do Liễu Thăng chỉ huy theo đường từ Quảng Tây tiến vào; đạo thứ hai do Mộc Thạnh chỉ huy, từ Vân Nam tràn xuống, đều hướng về Đông Quan. Lúc này, Nghĩa quân Lam Sơn cùng lúc phải đối phó với quân địch ở Đông Quan và viện binh địch ở hai hướng tràn vào. Cân nhắc kỹ mọi yếu tố, Lê Lợi và Nguyễn Trãi chủ trương “Vây thành, diệt viện”; tập trung lực lượng tiêu diệt đạo quân chủ yếu do Liễu Thăng chỉ huy trước; kiềm chế đạo quân của Mộc Thạnh. Ngày 08-10-1927, đạo quân do Liễu Thăng cầm đầu tiến vào nước ta. Nghĩa quân Lam Sơn đã tổ chức đánh và thắng lớn ở Chi Lăng, Cần Trạm và Phố Cát; Tổng chỉ huy Liễu Thăng và Phó tổng chỉ huy Lương Minh đều bị giết tại trận. Bị thất bại nặng, các tướng nhà Minh là Đô đốc Thôi Tụ và Hoàng Phúc thu thập tàn quân cố tiến về thành Xương Giang với hy vọng liên lạc được với quân ở Đông Quan và cánh quân của Mộc Thạnh. Khi địch tiến gần đến thành Xương Giang mới biết rằng thành này đã bị quân ta hạ. Lúc này, địch buộc phải hạ trại, đắp lũy tự vệ trên cánh đồng Xương Giang, nơi ta đã bố trí sẵn một lực lượng vây hãm từ bốn phía. Ngày 03-11-1427, nghĩa quân Lam Sơn bắt đầu tổng công kích. Thôi Tụ, Hoàng Phúc và hơn 300 võ tướng cùng 30.000 quân giặc bị bắt, hơn 50.000 tên bị giết tại trận. Nghĩa quân Lam Sơn thu được rất nhiều ngựa và các loại vũ khí, lương thảo, vàng, bạc, vải lụa...

Trong 27 ngày đêm (8-10/03-11-1427), quân dân ta đã tiêu diệt 100.000 viện binh của Liễu Thăng, 50.000 viện binh của Mộc Thạnh. Sau trận Chi Lăng - Xương Giang, tướng Minh là Vương Thông ở Đông Quan xin đầu hàng, trao trả các thành trì cho nghĩa quân Lam Sơn, cầu xin được rút quân về nước an toàn. Ngày 03-01-1428, những tên lính cuối cùng của nhà Minh rút khỏi biên giới nước ta.

Chiến thắng Chi Lăng - Xương Giang không chỉ chứng tỏ nghệ thuật quân sự điêu luyện và tài thao lược kiệt xuất của Nguyễn Trãi và Lê Lợi mà còn là tài tổ chức bảo đảm hậu cần kịp thời, tạo điều kiện cho trận quyết chiến chiến lược giành thắng lợi lớn. Về công tác bảo đảm hậu cần cho trận đánh, có thể rút ra một số kinh nghiệm chủ yếu sau:

Một là, xây dựng căn cứ, hậu phương vững mạnh tạo khả năng bảo đảm lớn cho tác chiến.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn