"Dao mổ vạch Trường Sơn" và những cuộc hồi sinh bên bờ vực tử thần
Khắc họa hành trình đi qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ của người thầy thuốc anh hùng Tạ Lưu. Giữa tọa độ lửa Trường Sơn thiếu thốn trăm bề, ông cùng đồng đội tại Đội Điều trị 14 đã không quản bom đạn, luồn rừng đuổi hổ giành giật mạng sống cho từng chiến sĩ. Bài viết là bản tráng ca thầm lặng về y đức, sự quả cảm và những quyết định táo bạo xé rách ranh giới tử sinh của người lính áo trắng Bộ đội Cụ Hồ.
Trong tâm thức của những người lính từng đi qua vệt lửa Trường Sơn huyền thoại, có một "tọa độ" không tiếng súng nhưng cuộc chiến giành giật sự sống lại diễn ra nghẹt thở từng phút, từng giây. Đó là những căn hầm chữ A nửa chìm nửa nổi của Đội Điều trị 14. Ở nơi ấy, có một người thầy thuốc mà đôi tay vừa mềm mại cầm kéo mổ, vừa rắn rỏi vượt mưa bom — Đại tá, Anh hùng Lực lượng vũ trang (LLVT) nhân dân, Thầy thuốc Ưu tú Tạ Lưu.
Gặp ông tại quê nhà Bắc Ninh khi tóc đã như mây trắng trời, giọng ông vẫn trầm ấm, sang sảng đầy minh mẫn. Người cựu viện trưởng già chỉ cười hiền hậu, khẽ xua tay khi nhắc về danh hiệu anh hùng của mình: “Chính những người đồng đội đồng cam cộng khổ, những người ngã xuống đã góp phần xây nên một Trường Sơn huyền thoại. Tôi chỉ là một viên gạch nhỏ trong đó mà thôi”.
Từ chiến trường Điện Biên đến người nhóm lửa tuyến tiền phương
Bác sĩ Tạ Lưu sinh năm 1931 trên dải đất quan họ Bắc Ninh thấm đẫm nghĩa tình. Tuổi thiếu niên của ông sớm gắn liền với các hoạt động phong trào thanh niên cứu quốc. Năm 1947, khi mới 16 tuổi, ông được cử đi học lớp y tá để phục vụ quân đội. Chàng trai trẻ ngày ấy mang hòm cứu thương đi qua Chiến dịch Trung Lào rồi hòa mình vào bão lửa Chiến dịch Điện Biên Phủ toàn thắng.
Hòa bình lập lại, ông được điều về Khoa Phẫu thuật, Viện Quân y 108. Không dừng lại ở những kiến thức thực chiến, với ý chí học hỏi không ngừng, ông tiếp tục hoàn thành khóa đào tạo bác sĩ chuyên tu tại Học viện Quân y, sẵn sàng cho giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Cuối năm 1965, vừa tốt nghiệp, bác sĩ Tạ Lưu nhận lệnh hành quân vào vùng đất lửa Quảng Bình, đảm nhiệm cương vị Phó đội trưởng Đội Điều trị 14 thuộc Bộ tư lệnh 559. Dưới quyền ông và Đội trưởng Lê Văn Đính ngày ấy có hơn 100 cán bộ, nhân viên, nhưng chỉ vỏn vẹn 4 bác sĩ, 10 y sĩ và 2 dược sĩ. Đội hoạt động như một bệnh viện dã chiến khu vực, có nhiệm vụ đón lõng, cấp cứu và điều trị thương bệnh binh tại các "tọa độ chết" trên hai con đường chiến lược 12 và 15.
Những cuộc đấu trí với tử thần dưới hầm sâu
Lịch sử ngành Quân y còn ghi lại giai đoạn cao điểm mùa khô năm 1966 - 1967 tại đường Trường Sơn, nơi sỏi đá cũng phải biến dạng vì bom nổ chậm và chất độc hóa học. Nhiều tháng liền, không ngày nào Đội Điều trị 14 không có ca đại phẫu. Có những đợt chiến dịch cao điểm, thương binh từ tuyến trên chuyển về nườm nượp, bác sĩ Tạ Lưu phải đứng bên bàn mổ hơn 10 tiếng đồng hồ liên tiếp suốt một tuần ròng rã dưới ánh đèn pin và đèn dầu tù mù.
Giữa ranh giới mong manh của sự sống và cái chết, trong điều kiện trang thiết bị y tế thiếu thốn đến kiệt cùng, người bác sĩ trẻ 39 tuổi năm ấy đã đưa ra những quyết định táo bạo, đi ngược lại nhiều quy trình y khoa kinh điển: Gây mê nội khí quản ngay trong hầm đất, truyền tĩnh mạch ngược chiều, và thậm chí là truyền máu trực tiếp từ cơ thể nhân viên y tế sang thương binh khi không có dung dịch chống đông. Ông hồi tưởng, ánh mắt ngời lên ký ức:
“Biết trước sẽ có nguy hiểm tính mạng cho người bệnh khi sử dụng những phương pháp kỹ thuật mới này, nhưng tôi vẫn hành động. Bởi nếu bác sĩ phẫu thuật chần chừ không hành động, thì thương binh không qua khỏi là điều chắc chắn. Chỉ cần có một tia hy vọng, tôi sẽ cố hết sức mình.”
Có những chiến công của ông và đồng đội mang đậm màu sắc sử thi. Đó là lần nhận được tin có bộ đội bị thương nặng ở khu vực Khe Hổ (Hố Gai). Bất chấp rừng rậm âm u, suối sâu cắt xẻ và sự rình rập của máy bay địch, bác sĩ Tạ Lưu đã cùng kíp phẫu thuật gan dạ luồn rừng, bám theo từng vết máu loang trên lá cây, vào tận khe đá sâu đuổi hổ dữ để tìm bằng được và cứu sống người chiến sĩ.
Một kỷ niệm khác khiến ông rưng rưng mỗi khi nhắc lại là lần Trung đoàn 280 pháo cao xạ bảo vệ bến phà Xuân Sơn gửi điện cấp cứu khẩn cho một chiến sĩ bị vết thương thấu bụng đã nhiễm trùng, viêm phúc mạc nguy kịch. Không một chút đắn đo, ông cùng 7 cán bộ lập tức xung phong vượt chặng đường 90km đầy rẫy bom đạn rình mò suốt ngày đêm để tiếp cận mục tiêu.
Đến nơi, không kịp uống ngụm nước bẻ nửa lương khô, kíp mổ lập tức bước vào ca đại phẫu. Đến 12 giờ đêm, bác sĩ Tạ Lưu mới buông kéo, tháo đôi găng tay sực mùi máu và thuốc sát trùng giao lại cho y tá Thảo chăm sóc hậu phẫu. Ca mổ thành công ngoài mong đợi, người chiến sĩ ấy sau này đã bình phục và tiếp tục trở lại trận địa chiến đấu dũng cảm.
"Viên gạch nhỏ" hóa tượng đài y đức
Chính từ những chuyến băng rừng cứu người nghẹt thở ấy, bác sĩ Tạ Lưu và Đội trưởng Lê Văn Đính đã đề xuất thành lập các "Phân ban tiền phương". Đây là lực lượng quân y cơ động, sẵn sàng bám sát các đơn vị chiến đấu để tận dụng "thời gian vàng" cấp cứu thương binh trước khi chuyển về tuyến sau. Mô hình sáng tạo này đã cứu sống hàng nghìn sinh mạng người lính trên toàn tuyến lửa.
Với những thành tích đặc biệt xuất sắc, năm 1969, Thượng úy, bác sĩ Tạ Lưu ở tuổi 39 vinh dự được phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân. Bốn năm sau, năm 1973, tập thể Đội Điều trị 14 nơi ông gắn bó cũng kiêu hãnh nhận danh hiệu cao quý này. Sau ngày non sông thống nhất, ông tiếp tục cống hiến và nghỉ hưu với quân hàm Đại tá trên cương vị Viện trưởng Viện Quân y 110.
Trải qua gần thế kỷ cuộc đời, người anh hùng áo trắng năm xưa vẫn miệt mài làm việc, viết hàng chục đầu sách, bài báo và sáng tác những vần thơ nghĩa tình về đồng đội, về những góc khuất kiên trung của cuộc chiến. Bác sĩ Tạ Lưu tự nhận mình là một viên gạch nhỏ dưới chân dãy Trường Sơn, nhưng chính những viên gạch thầm lặng mang trái tim hồng như ông đã lót đường cho ngày đại thắng, biến màu áo trắng quân y thành một biểu tượng bất tử của lòng nhân ái và đức hy sinh.



