Bài viết

Đảo ngọc trong vòng tay Tổ quốc

Từ thế kỷ 15, Nguyễn Trãi có nhắc đến Bạch Long Vĩ trong bài thơ “Quá hải” (vượt biển) của ông: “Tùng Lâm địa xích cương Nam Bắc/ Long Vĩ sơn hoành hạn yếu xung”. (Tạm dịch là: Tùng Lâm ngăn cách chia Nam Bắc/ Long Vĩ giăng ngang chặn hiểm xung...

Hà Tĩnh09/04/2026Võ Huân (Can Lộc)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Từ thế kỷ 15, Nguyễn Trãi có nhắc đến Bạch Long Vĩ trong bài thơ “Quá hải” (vượt biển) của ông: “Tùng Lâm địa xích cương Nam Bắc/ Long Vĩ sơn hoành hạn yếu xung”. (Tạm dịch là: Tùng Lâm ngăn cách chia Nam Bắc/ Long Vĩ giăng ngang chặn hiểm xung). Cái vị trí “chặn hiểm xung” mà Nguyễn Trãi nhắc tới không chỉ là một lời tuyên ngôn về vị trí của Bạch Long Vĩ mà cũng là một lời nhắc nhở các thế hệ người Việt Nam phải có trách nhiệm bảo vệ, gìn giữ lấy hòn đảo ngọc này.

Truyền thuyết kể rằng tên Bạch Long Vĩ đã có từ rất lâu, bắt nguồn từ truyền thuyết ngày xưa có một con rồng trắng từ trên trời bay xuống và lưu lại ở vùng biển Quảng Ninh-Hải Phòng. Phần đầu và thân rồng thuộc vịnh Hạ Long, còn đuôi rồng là đảo Bạch Long Vĩ. Sách địa chí Việt Nam và Trung Quốc có nhắc đến Bạch Long Vĩ thuộc châu Vĩnh An của ta. Đến thời Nguyễn, đảo Bạch Long Vĩ thuộc địa bàn phủ Hải Đông, trấn Quảng Yên. Năm 1836 vua Minh Mạng đổi tên phủ Hải Đông thành phủ Hải Ninh. Dưới thời Pháp thuộc chính quyền đô hộ đặt đạo quan binh Hải Ninh thành phủ Hải Ninh. Sau khi tiếp quản đảo, ngày 15-2-1957, Thủ tướng Chính phủ ban hành quy định đảo Bạch Long Vĩ là một xã trực thuộc hành chính thành phố Hải Phòng. Đến năm 1959, xã Bạch Long Vĩ thuộc huyện Cát Bà. Ngày 9-12-1992 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định nâng Bạch Long Vĩ thành đơn vị cấp huyện thuộc thành phố Hải Phòng.

Một góc đảo Bạch Long Vĩ.

Mang theo câu chuyện đậm chất huyền thoại và lịch sử của hòn đảo này, chúng tôi lên đường ra Bạch Long Vĩ. Con tàu của Hải quân Vùng A (Quân chủng Hải quân) hú một hồi còi dài tạm biệt cảng rồi thẳng hướng Vịnh Bắc Bộ đè sóng lao đi. Nhìn trên bản đồ, đảo Bạch Long Vĩ nằm ở 20009’23 vĩ độ Bắc, 107042’30 kinh độ Đông cách thành phố Hải Phòng hơn 100km. Tàu vừa nhô khỏi bán đảo Long Châu, những con sóng cấp 5, cấp 6 xuất hiện, liên tục đập mạnh vào mạn tàu. Sóng mạnh nên tàu Bạch Long, con tàu khách làm nhiệm vụ chuyên chở người và hàng hóa ra đảo không thể đi được. Lúc này, chỉ có tàu quân sự mới ra được đảo. Đại tá Phạm Văn Điển, Chỉ huy trưởng Vùng A Hải quân nói vui: “Biết có anh em báo chí ra đảo nên chúng tôi chọn con tàu cũ nhất và kíp thủy thủ mới nhất đưa các anh đi”. Mặc dù anh nói thế nhưng chúng tôi hiểu, mục đích lớn nhất của người chỉ huy này là đưa bộ đội vào môi trường thực sự để rèn luyện. Kíp thủy thủ của tàu đa số là những người trẻ, nhưng trình độ và kinh nghiệm trong nghề thì không hề non.

1 giờ 30 phút sáng tàu mới tiếp cận được đảo sau hành trình 15 giờ không nghỉ. Trời đang là đêm nhưng âu tàu rực sáng ánh đèn và nhộn nhịp như ban ngày. Đặt chân lên đảo, cảm giác với chúng tôi thật khó tả, sự chộn rộn, thiêng liêng hòa quyện. Âm hưởng bài hát “Bạch Long Vĩ, đảo quê hương” vang mãi từ khi bước chân xuống boong tàu với những ca từ thật đẹp. “Từ ngày bộ đội ta lướt sóng về đây, tay nắm chặt tay, áo lá rợp thôn, sẵn sàng chiến đấu; cát gió mưa gào, bão táp không sờn, quyết chung một lòng giữ đảo quê hương”. Bài hát này ra đời trong một hoàn cảnh thật đặc biệt. Đó là một buổi trưa cách đây đã 45 năm khi nhạc sĩ Huy Du ra đảo. Lúc ông đứng dưới gốc đa già trên đảo thì máy bay giặc bất ngờ ập tới và gầm rú như điên loạn. Dù nguy hiểm cận kề nhưng lúc đó ông đã không xuống hầm trú ẩn mà ngồi nguyên dưới gốc đa. Và trong khoảnh khắc ấy, ông đã sáng tác bài hát này. Bạch Long Vĩ có những con sóng dài ôm trọn lấy những dải san hô lấp lánh ánh chiều lúc hoàng hôn. Đảo ngày hôm nay đẹp là thế, vậy mà trong lịch sử, hòn đảo này cũng chứa đựng đầy những vết tích bom đạn mà máy bay Mỹ rải xuống. Người ta thống kê rằng, cứ trung bình mỗi m2 bề mặt đảo phải chịu 3 quả bom và hàng chục quả đạn pháo các loại của Mỹ. Mỗi người trên đảo phải gánh chịu 9 quả bom và hàng chục quả đạn pháo!

Nếu như thế kỷ 20 Bạch Long Vĩ trải qua đầy biến cố với hàng loạt sự kiện diễn ra trên hòn đảo này thì những năm đầu thế kỷ 21 đã chứng kiến sự thay đổi nhanh chóng của đảo. Trên đảo hiện nay đã có hơn 40 máy phát điện diezen công suất từ 1KW-200KVA, tổng công suất trên 700KVA. Riêng khu dịch vụ hậu cần nghề cá có công suất phát điện 400KVA. Trạm hải đăng còn sử dụng năng lượng pin mặt trời. Đêm xuống, từ ngọn hải đăng ở vị trí cao 62,33m, những luồng ánh sáng đều đều quay quét như nhắc mọi người về những điều kim cổ. Dự án điện gió công suất 800KVA tại đảo, đã được Tổng đội thanh niên xung phong triển khai, liên kết với tập đoàn MADE của Tây Ban Nha từ năm 2001. Dự án được hoàn thành năm 2004 đang vận hành để cấp điện. Từ khi cảng, khu neo đậu tàu và khu dịch vụ hậu cần nghề cá đi vào hoạt động, tàu thuyền đánh cá đến ngư trường Bạch Long Vĩ tăng lên rất nhanh. Trên những lối đi xưa chỉ có hun hút gió thổi thì bây giờ, cũng con đường ấy ngày ngày thấp thoáng những eo lưng thon của các cô thanh niên xung phong và màu xanh áo chiến sĩ. Hàng nghìn lượt thanh niên nam nữ của Tổng đội Thanh niên xung phong Bạch Long Vĩ đứng chân từ những năm cuối 80 đầu 90 của thế kỷ trước đến giờ đang chung tay với Đơn vị C52 trồng rừng, khai thác hải sản, làm kinh tế, bảo vệ đảo ngọc…

Lớp học mầm non trên đảo.

Ông Ninh Văn Dũng, Phó bí thư Huyện ủy, Chủ tịch Hội đồng nhân dân huyện cho biết: Nghề cá và dịch vụ nghề cá của đảo phát triển mạnh. Về tiềm năng, đây sẽ vẫn là thế mạnh lâu dài của huyện đảo. Trong số hệ động vật biển ở đảo lên tới 738 loài thì cá chiếm đến 412 loài. Ngư trường Bạch Long Vĩ rộng 1.500 hải lý vuông, có sản lượng khai thác cao, chủng loại phong phú, phân bổ tương đối đều quanh năm. Trước năm 1988, cá song, cá mú có thể bắt bằng các hình thức câu, đánh lưới khoảng 40-50 tấn, bào ngư khai thác khoảng 30-40 tấn tươi mỗi năm. Với người dân trên đảo và ngư dân các địa phương khác đến đây đánh bắt, nghề lặn bào ngư đem lại lợi nhuận rất cao. Khu vực Bạch Long Vĩ là nơi có lượng bào ngư lớn nhất các vùng biển nước ta hiện nay. Đây là loại hải sản quý, có giá trị kinh tế và xuất khẩu cao (1kg khô hiện nay giá khoảng 1.500.000 đồng). Tuy nhiên, do khai thác quá mức, nguồn lợi bào ngư giảm hẳn, hiện chỉ phân bổ ở độ sâu 3-5 mét nước trở vào với mật độ không lớn. Từ năm 1999, nhờ Trung tâm Khuyến ngư (Bộ Thủy sản) cấp vốn, Tổng đội Thanh niên xung phong kết hợp với Viện Nghiên cứu Hải sản tiến hành nuôi thí điểm bào ngư bằng hình thức nuôi lồng với số lượng khoảng 10.000 con giống tại âu cảng.

Với hơn 1.300ha rừng được trồng đã biến Bạch Long Vĩ thành một hòn đảo xanh, nhờ đó lượng nước ngọt dự trữ trên đảo đã đỡ khó khăn. Đảo có 3 giếng nước khoan và 40 giếng khơi. Đa phần hộ dân dùng giếng khơi và đều có bể chứa nước mưa. Nước giếng khoan (sâu 80-100m) khai thác 80m3/ngày 3 bể chứa 700m3 phục vụ Trung tâm hậu cần nghề cá là chính. Trạm lọc nước biển có công suất 200m3/ngày phục vụ sản xuất nước đá, nhưng giá thành còn cao và chưa hoạt động thường xuyên. Nhu cầu nước sử dụng sinh hoạt và sản xuất nước đá cho tàu thuyền vào khu neo đậu trong âu cảng trung bình 500m3/ngày, cao điểm 600-700m3/ngày. Hiện nay, nước ngọt trên đảo chỉ tạm đủ cho dân và đáp ứng được phần nhỏ nhu cầu của tàu thuyền đánh cá. Nguồn nước ngọt khai thác ở đảo còn ít so với yêu cầu, bởi thế việc tiến hành khoan tìm kiếm thêm nguồn nước ngầm hoặc đầu tư thiết bị lọc nước biển và dùng tàu chở nước chuyên dụng ra đảo là giải pháp được tính tới. Chắc chắn, với sự nỗ lực của quân và dân trên đảo, sự đầu tư xứng đáng từ đất liền, trong tương lai không xa, Bạch Long Vĩ sẽ trở thành điểm đến hấp dẫn, giàu về kinh tế, mạnh về quốc phòng, xứng đáng là phên giậu của Tổ quốc, đúng như lời Bác Hồ hằng mong muốn: “Ngày trước ta chỉ có đêm và rừng. Ngày nay ta có ngày, có trời, có biển. Bờ biển ta dài, tươi đẹp, ta phải biết giữ gìn lấy nó.”

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn
Đảo ngọc trong vòng tay Tổ quốc | Câu chuyện thời hoa lửa