Đặt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong mối quan hệ quốc tế
Đặt cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc trong mối quan hệ quốc tế

Thấm nhuần lý luận cách mạng của V.I.Lê-nin: “Chỉ có thể thắng một kẻ thù mạnh hơn bằng một nỗ lực hết sức lớn và với một điều kiện bắt buộc là phải lợi dụng một cách hết sức tỷ mỷ…, hết sức khôn khéo bất cứ một “rạn nứt” bé nhỏ giữa các kẻ thù… cũng như phải lợi dụng mọi khả năng dù bé nhỏ nhất để có được một bạn đồng minh mạnh về số lượng, dù đó là bạn đồng minh tạm thời, bấp bênh, ít chắc chắn và ít tin cậy”(5), Hồ Chí Minh khẳng định: “Muốn làm cách mạng thắng lợi thì phải phân biệt rõ ai là bạn ai là thù, phải thực hiện thêm bầu bạn, bớt kẻ thù”(6). Đó là nguyên tắc chung của mọi cuộc cách mạng. Đối với một dân tộc nhỏ lại phải đối đầu với các kẻ thù mạnh thì việc “làm cho nước mình ít kẻ thù hơn hết và nhiều bạn đồng minh hơn hết” càng trở nên cấp thiết. Vì vậy, cùng với việc chủ động chuẩn bị lực lượng cách mạng trong nước, xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất (Việt Minh làm nòng cốt), Hồ Chí Minh nỗ lực tìm kiếm sự ủng hộ của Đồng minh để kháng Nhật, đồng thời tranh thủ sự công nhận của Đồng minh đối với phong trào giải phóng dân tộc của Việt Nam.
Năm 1942, Nguyễn Ái Quốc (lúc này lấy tên là Hồ Chí Minh) quyết định lên đường đi Trung Quốc nhằm tìm cách tiếp xúc với lực lượng Đồng minh trong cuộc đấu tranh chống kẻ thù chung là phát xít Nhật. Nhưng Người bị Quốc dân Đảng bắt giữ tháng 8/1942 và đến ngày 10/9/1943 Người mới được thả tự do nhưng vẫn bị Quốc dân Đảng giữ lại hoạt động cho Việt Nam cách mạng Đồng minh Hội (một tổ chức của người Việt Nam ở Trung Quốc gồm nhiều đảng phái, do tướng Trương Phát Khuê, Tư lệnh trưởng, đại diện Quốc dân Đảng, trực tiếp chỉ đạo). Trong thời gian hoạt động tại đây, Người vừa tranh thủ đoàn kết, vừa phân hóa, lôi kéo những phần tử yêu nước và tiến bộ đứng về phía cách mạng Việt Nam, đồng thời Người còn tạo được mối quan hệ với một số tướng lĩnh trong Quốc dân Đảng như Trương Phát Khuê…
Sang năm 1943, phe Đồng minh đang từng bước giành được thế chủ động trên chiến trường. Hồ Chí Minh nhận định: “Tình thế cách mạng thế giới đã chuyển biến có nhiều thuận lợi cho cách mạng Việt Nam”(7). Đặc biệt Người đã phát hiện ra mâu thuẫn giữa các nước Mỹ, Anh, Pháp trong việc giải quyết các vấn đề thuộc địa, trong đó có Đông Dương. Người thấy cần phải đẩy mạnh tiếp xúc với các lực lượng Đồng Minh để đặt cuộc chiến đấu của dân tộc trong bối cảnh cả thế giới đang cùng nhau đứng lên chống phát xít.
Cùng lúc đó, tình hình cách mạng trong nước đang phát triển mạnh mẽ, mặt trận Việt Minh đã xây dựng được nhiều cơ sở trong cả nước. Hồ Chí Minh rút ra kết luận: “phải gặp Mỹ, tranh thủ sự đồng tình của Mỹ, thêm bạn cho cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam, cho mặt trận Việt Minh, tìm kiếm một quan hệ mức độ có thể với Mỹ để cách mạng Việt Nam có một vị trí nhất định trong phe Đồng minh chống phát xít và triệt để phân hóa hàng ngũ của chủ nghĩa đế quốc”(8). Vì vậy, tháng 02/1945, Hồ Chí Minh lên đường đi Côn Minh tìm cách liên hệ với lực lượng của Mỹ đại diện cho phe đồng minh ở đây. Người đã đích thân đưa viên Trung úy phi công William Shaw (người được nhân dân thị xã Cao Bằng cứu khi bị quân Nhật bắn rơi xuống đây) trao trả cho Bộ chỉ huy Mỹ ở Côn Minh. Tại Côn Minh, Hồ Chí Minh đã gặp các sĩ quan Mỹ trong OSS (tổ chức tình báo của Mỹ trong chiến tranh thế giới thứ hai) và OWI (tổ chức thông tin chiến tranh của Mỹ trong chiến tranh thế giới thứ hai).
Cuộc trao đổi đã đi đến thỏa thuận: người Mỹ có thể sẽ cung cấp vũ khí, thuốc men và điện đài cho Việt Minh và huấn luyện cho người của Việt Minh biết sử dụng những thứ đó… Mặc dù Nhật xâm chiếm Đông Dương nhưng vẫn duy trì bộ máy cai trị thực dân Pháp để phục vụ cho cuộc chiến tranh của Nhật. Về điều này Hồ Chí Minh cho rằng: “Trong lúc Nhật-Pháp đang hợp tác chặt chẽ, Việt Minh đã đoán trước rằng chúng sẽ phản nhau, mà Nhật sẽ phản Pháp trước. Nên Việt Minh chuẩn bị kế hoạch để lợi dụng cơ hội đó”(11). Đúng như dự đoán của Người, ngày 09/3/1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương.
Sau sự kiện này Bộ chỉ huy của Mỹ ở Côn Minh đã nhiều lần cử đại diện đến gặp Hồ Chí Minh để bàn phương thức hợp tác “Việt Minh – Mỹ”. Bởi lúc này Việt Minh đã xây dựng được lực lượng kháng chiến hoạt động thống nhất trong cả nước, nên khi toàn bộ lực lượng của Pháp bị Nhật vô hiệu hóa sau cuộc đảo chính, quân đội Mỹ tại chiến trường Hoa Nam đã quyết định hợp tác với phong trào kháng chiến Việt Nam để chống Nhật trên chiến trường Đông Dương. Kết quả tính đến ngày 10/8/1945, chúng ta đã nhận được 22 chuyến hàng thả dù tiếp viện từ phía Mỹ, bao gồm súng, đạn, quân trang, quân dụng, điện đài và một nhóm quân tình nguyện Mỹ (11 người) trực tiếp hướng dẫn cán bộ Việt Minh sử dụng vũ khí mới và trang thiết bị phục vụ cho khởi nghĩa vũ trang… Ngược lại, Việt Minh đã cung cấp cho Mỹ những thông tin quan trọng về hoạt động của Nhật, đã cứu và giúp đỡ nhiều phi công Mỹ rơi trên đất nước ta…
Đối với Pháp, tuy bị Nhật hất cẳng ở Đông Dương nhưng ngày 24/3/1945 Chính phủ Pháp vẫn lớn tiếng tuyên bố rằng: Liên bang Đông Dương nằm trong Liên hiệp Pháp, quyền lợi ở nước ngoài do Pháp đại diện. Rõ ràng Pháp sẽ tìm mọi cách quay trở lại Đông Dương. Biết được ý đồ đó, Hồ Chí Minh đã gửi cho Chính quyền Đờ Gôn một bản đề nghị gồm 5 điểm để hai bên cùng tìm giải pháp cho vấn đề Việt Nam và Đông Dương trong hòa bình, nhưng Chính phủ Pháp đã lờ đi. Rõ ràng Hồ Chí Minh đã không bỏ lỡ một cơ hội nào trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc. Nhưng những nỗ lực ngoại giao của Người để đòi quyền độc lập cho dân tộc bằng con đường hòa bình đã bị Pháp khước từ. Sau này trong tác phẩm “Một nền hòa bình bị bỏ lỡ”, chính Xanhtơni đã bày tỏ: “những đòi hỏi đó ngày nay thì là như chế giễu, nhưng lúc đó là khá khiêm tốn và hoàn toàn có thể chấp nhận được”.
Từ ngày 17/7 đến ngày 02/8/1945, diễn ra hội nghị giữa ba nước lớn Mỹ – Anh – Liên Xô tại Pốtđam (Hà Lan) để giải quyết nhiều vấn đề quốc tế quan trọng, trong đó có vấn đề Đông Dương. Cuối cùng các bên đồng ý chia Đông Dương ở vĩ tuyến 16, phía Bắc thuộc quyền kiểm soát Mỹ – Tưởng, phía Nam là Anh.
Trước tình hình đó, Hồ Chí Minh nhận định: Sự mâu thuẫn giữa hai phe đồng minh Anh – Pháp và Mỹ – Trung Quốc về vấn đề Đông Dương là một điều ta cần lợi dụng và Người xác định “đế quốc phát xít Nhật trở thành kẻ thù chính, kẻ thù cụ thể trước mắt, duy nhất” còn “bọn Pháp kháng chiến đang đánh Nhật là đồng minh khách quan”(12).Vì vậy, chính sách của chúng ta là phải tránh trường hợp: một mình đối phó với nhiều lực lượng Đồng minh (Trung Quốc, Anh, Pháp, Mỹ tràn vào nước ta) và đặt một chính phủ của Pháp hay một chính phủ bù nhìn khác trái với ý nguyện dân tộc. Bởi thế cần tranh thủ sự đồng tình của Liên Xô và Mỹ chống lại ý đồ của Pháp khi định khôi phục lại địa vị cũ ở Đông Dương và âm mưu của một số quân phiệt Trung Quốc định chiếm nước ta. Việc thiết lập quan hệ với các lực lượng Đồng minh trước thềm Cách mạng Tháng Tám đã tạo ra những điều kiện quốc tế thuận lợi cho chính quyền cách mạng vì theo Hồ Chí Minh: “các nước Đồng minh… không thể không công nhận quyền độc lập của dân Việt Nam… một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập!”(9).
Như vậy, việc Hồ Chí Minh mở rộng mối quan hệ với các lực lượng Đồng minh là những quyết định sáng suốt, nhằm vừa tranh thủ họ, vừa hạn chế họ, thêm bạn bớt thù cho cách mạng Việt Nam; đồng thời cho họ thấy rõ cuộc đấu tranh của dân tộc ta là cuộc đấu tranh của lực lượng dân chủ trong mặt trận đồng minh chống phát-xít mà họ cần quan hệ.



