Đất nước sau Cách mạng tháng Tám 1945 – Những thử thách của một nền độc lập non trẻ
Trần Thị Thu Hiền

Mùa thu năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, mở ra một trang mới trong lịch sử dân tộc. Ngày 2 tháng 9 năm 1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Thế nhưng, niềm vui độc lập chưa kéo dài được bao lâu thì chính quyền cách mạng phải đối mặt với vô vàn thử thách. Đất nước vừa thoát khỏi ách thống trị của thực dân, phát xít đã đứng trước tình thế hết sức khó khăn: “ngàn cân treo sợi tóc”.
Trước hết là nạn đói. Những năm 1944–1945, chính sách bóc lột của Nhật và Pháp, thiên tai cùng chiến tranh đã khiến sản xuất nông nghiệp bị đình đốn nghiêm trọng. Nạn đói 1944–1945 đặc biệt khủng khiếp, cướp đi sinh mạng của rất nhiều người ở miền Bắc. Khi chính quyền mới ra đời, hậu quả của nạn đói vẫn chưa được khắc phục. Nhiều gia đình không có đủ lương thực, người dân phải sống trong cảnh thiếu thốn, đói nghèo. Trước tình hình ấy, Chính phủ đã phát động nhiều biện pháp cứu đói, tiêu biểu như tổ chức quyên góp gạo, thực hiện “nhường cơm sẻ áo”, đẩy mạnh tăng gia sản xuất và vận động nhân dân tiết kiệm.
Cùng với nạn đói là tình trạng tài chính kiệt quệ. Ngân khố quốc gia gần như trống rỗng, trong khi chính quyền cách mạng phải giải quyết rất nhiều công việc cấp bách. Nhà nước mới không có đủ nguồn lực để duy trì bộ máy, phục hồi sản xuất và bảo đảm đời sống nhân dân. Để giải quyết khó khăn trước mắt, Chính phủ phát động “Tuần lễ Vàng”, kêu gọi nhân dân đóng góp tiền bạc, vàng bạc cho nền tài chính quốc gia. Đây là một biểu hiện rõ nét của tinh thần đoàn kết và sự ủng hộ của nhân dân đối với chính quyền cách mạng.
Một khó khăn khác là nạn mù chữ. Do chính sách ngu dân của chế độ thực dân, tỉ lệ người biết chữ ở nước ta rất thấp. Sau Cách mạng tháng Tám, việc nâng cao dân trí trở thành một nhiệm vụ cấp thiết. Chính phủ thành lập Nha Bình dân học vụ, phát động phong trào học chữ trong toàn dân. Những lớp học được tổ chức ở nhiều nơi, từ thành thị đến nông thôn, giúp người dân từng bước thoát khỏi tình trạng mù chữ. Đây không chỉ là một nhiệm vụ văn hóa mà còn là cách xây dựng nền tảng cho một quốc gia độc lập.
Bên cạnh những khó khăn về kinh tế và xã hội, chính quyền cách mạng còn phải đối mặt với tình thế chính trị và quân sự vô cùng phức tạp. Theo thỏa thuận của phe Đồng minh, quân Trung Hoa Dân quốc tiến vào miền Bắc Việt Nam để giải giáp quân Nhật, còn quân Anh tiến vào miền Nam. Lợi dụng tình hình đó, thực dân Pháp tìm cách quay trở lại xâm lược nước ta. Ngày 23 tháng 9 năm 1945, quân Pháp nổ súng đánh chiếm Sài Gòn, mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam lần thứ hai.
Chùm ảnh tư liệu
Ảnh tư liệu của bài viết.
Không chỉ phải đối phó với quân đội nước ngoài, chính quyền cách mạng còn phải xử lí sự chống phá của các lực lượng chính trị đối lập trong nước. Chính quyền mới còn non trẻ, lực lượng vũ trang chưa mạnh, kinh nghiệm quản lí đất nước còn hạn chế. Trong khi đó, đất nước vừa trải qua chiến tranh và nhiều năm bị cai trị bởi chế độ thực dân, nên nền kinh tế, xã hội và bộ máy hành chính đều để lại những hậu quả nặng nề.
Tuy nhiên, giữa muôn vàn khó khăn, chính quyền và nhân dân Việt Nam đã từng bước tìm cách vượt qua. Những phong trào “Hũ gạo cứu đói”, “Ngày đồng tâm”, tăng gia sản xuất, Bình dân học vụ và Tuần lễ Vàng đã huy động sức mạnh của toàn xã hội. Chính phủ cũng tổ chức Tổng tuyển cử ngày 6 tháng 1 năm 1946, xây dựng Quốc hội và từng bước củng cố nền dân chủ của nhà nước mới.
Có thể nói, những năm tháng sau Cách mạng tháng Tám là một phép thử lớn đối với nền độc lập vừa giành được. Đất nước phải cùng lúc đối mặt với nạn đói, nạn dốt, khó khăn tài chính, sự chống phá trong nước và nguy cơ xâm lược từ bên ngoài. Nhưng chính trong hoàn cảnh tưởng như vô cùng hiểm nghèo ấy, sức mạnh đoàn kết của nhân dân càng được thể hiện rõ rệt. Những nỗ lực vượt qua khó khăn trong giai đoạn 1945–1946 đã góp phần giữ vững chính quyền cách mạng và tạo nền tảng để dân tộc bước vào cuộc kháng chiến lâu dài chống thực dân Pháp.



