Nhân chứng trực tiếp tham gia các sự kiện lịch sử

ĐẤT THÉP

Trong những ngày sau Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968, người kể được cử đến phối hợp với Sư đoàn 9 Quân Giải phóng Miền Nam tại xã Tân Thạnh Tây thuộc vùng Củ Chi, nơi nổi tiếng là “đất thép” sát cạnh nhiều căn cứ Mỹ như Đồng Dù. Giữa vòng vây dày đặc của quân Mỹ và pháo sáng suốt đêm, một xóm làng vẫn tồn tại như “ốc đảo” – ban ngày chiến đấu ác liệt, ban đêm bộ đội và nhân dân cùng sinh hoạt, nuôi dưỡng và che chở cho lực lượng cách mạng. Trải nghiệm ấy khiến người lính thấm thía sâ

Lai Châu10/03/2026Ban Biên tập tổng hợp3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Đúng như tôi nghĩ, về làm chức tham mưu phó Trung đoàn hai hôm, tôi được Trung đoàn trưởng phái đi bắt liên lạc và bàn giao nhận chiến trường với trung đoàn 2 sư đoàn 9 ở xã Tân Thạnh Tây (nam Củ Chi) nằm trên lộ 8 từ thị trấn Củ Chi đi cầu Lái Thiêu bắc qua sông Sài Gòn đến thị xã Bình Dương (Thủ Dầu Một). Tôi nhủ thầm: “Bắt đầu cái kiếp làm phu lon ton chạy giấy đây”.

Lúc này vừa kết thúc giai đoạn 1 của chiến dịch Mậu Thân. Chuyến đi của tôi chuẩn bị cho đợt 2 mà Trung đoàn 88 sẽ vào cuộc.

Thật bỡ ngỡ khi đặt chân lên địa bàn xa lạ nổi danh “Đất thép”. Tôi như chiếc thuyền con lạc trong biển cả mênh mông. Bốn bề căn cứ Mỹ. Xung quanh sáng trắng đèn dù. Pháo sáng từ đất bắn lên, từ máy bay đảo lượn trên không thả xuống không một phút giây nào ngừng, từ lúc mặt trời vừa lặn hôm trước đến sáng bạch ngày hôm sau. Nó soi sáng từng lùm cây bụi cỏ, soi rõ từng ngón chân trong bàn chân mỗi người. Trên trời từng bầy trực thăng vũ trang chia thành tốp 3 chiếc vãi cơn mưa đạn xuống hai bờ sông ven các kênh rạch, cả những lùm chồi không đủ che kín một thân người ẩn núp. Đại bác từ Bình Dương, Lai Khê, Bến Cát và “dàn nhạc Tân Tây Lan” ở Đồng Dù luân phiên dội đạn xuống các trục đường, bến sông, các khu đất bỏ hoang ở các xã Nhuận Đức, An Nhơn Tây, Phú Mỹ Hưng, Hố Bò, ven các xóm dân Gò Nổi, Ba Sòng, Xóm Trại, Đồng Lớn, Sa Nhỏ, Cỏ Ống...

Cùng đi với tôi có đồng chí công vụ liên lạc và một du kích dẫn đường. Chúng tôi bắt đầu xuất phát từ chiều ngày mùng bảy tết tại Bến Đình (Nhuận Đức). Nơi đây tôi nhặt được trong hầm trú ẩn ai đó bỏ quên một tạp chí văn nghệ Quân giải phóng không còn bìa. Tôi ngạc nhiên trong điều kiện vô vàn khó khăn ở chiến trường mà cơ quan tuyên huấn Cục chính trị Miền cho ra một tạp chí in ấn không kém gì miền Bắc. Nội dung các bài viết nhiều thể loại như truyện ngắn, thơ, tranh vui, lý luận, phê bình sáng tác... Cọ một bài thơ tôi đọc đi đọc lại nhiều lần. Để có thể nhìn rõ những dòng chữ cuốn hút tôi mãnh liệt, tôi phải trườn người ló đầu ra khỏi miệng hầm mà có được chút ánh sáng để đọc. Bài thơ có tựa đề: “Chúng con chiến đấu cho người sống mãi Việt Nam ơi!” của Nam Hà, mặc cho trực vũ trang Mỹ nã roc-ket và đại liên xối xả trên đầu. Bài thơ thật tuyệt đã gây nhiều xúc động trong tôi. Một thời gian sau đó tình cờ tôi nghe qua chiếc máy thu thanh bán dẫn giọng một nghệ sĩ nam, trong một buổi phát của đài phát thanh Tiếng nói Việt Nam trầm ấm nhưng đầy cương nghị đọc bài thơ này có nhạc đệm. Tôi lặng nghe như uống từng giọt mật thấm vào lòng. Cảm ơn nhà thơ Nam Hà đã cho ra một tác phẩm tôi yêu thích. Tình cờ tôi được đọc nó trước lúc sắp dân thân vào cảnh “dầu sôi lửa bỏng”.

Dưới ánh sáng trắng đèn dù, tiếng nổ dồn dập của đạn đại bác và ầm ào phành phạch của bầy trực thăng quần đảo trên đầu, tôi lao theo người du kích dẫn đường nhưng miệng vẫn lẩm bẩm mấy câu trong bài thơ ấy: “… nước mắt chỉ dành cho ngày gặp mặt... ”.

Chúng tôi băng qua những bãi rừng chồi khoảng giữa hai căn cứ địch. Trước đây, nơi này là thôn ấp rất trù phú thuộc xã Phú Hòa Tây, nay bị Mỹ san bằng thành khu trắng. Bên trái là đồn Cây Me và ấp chiến lược Phú Hòa Đông có đại đội bảo an, nhiều trung đội dân vệ và phòng vệ dân sự có vũ trang chốt giữ. Bên phải là thị trấn Củ Chi và Đồng Dù một căn cứ lớn, tiền đồn quan trọng cửa ngõ hướng Tây bắc Sài Gòn. Đồng Dù nơi trú đóng của sư đoàn 25 bộ binh có biệt danh “Tia chớp nhiệt đới”. Bơi qua rạch Lán The không rộng nhưng khá sâu, nước chảy chậm. Điều quan trọng không ngại chuyện nông sâu mà làm sao ẩn kín khi bơi không để nhiều gợn nước lăn tăn tránh cặp mắt soi mói của trực thăng rọi sáng đèn pha dòm ngó trên trời. Từ đó băng qua một cánh đồng rộng bỏ hoang mọc đầy cỏ lác cao quá đầu người. Nhờ thế chúng tôi chui luồn trong đó che mắt chốt dã chiến của một cụm xe tăng Mỹ cách không xa

Ra khỏi cánh đồng cỏ lác, trước mắt hiện ra một xóm ấp làm tôi hết sức ngỡ ngàng lạ lẫm. Nhà cửa san sát hai bên con đường nhựa phẳng lì trong những khu vườn cây trái sum xuê. Đèn lửa giăng giăng. Thôn trên xóm dưới tiếng cười nói râm ran. Nhiều nhà đang giã gạo xay lúa. Nhà nào cũng sáng lửa bếp. Tiếng động cơ các loại xe máy, xe lam, máy phát điện nổ dòn tan. Thật lạ! Mấy năm ở chiến trường chỉ thấy cảnh rừng núi đồng hoang khô cằn bởi chất độc hóa học Mỹ, bây giờ tôi như bước vào một thế giới mới mẻ sôi động như một ốc đảo hòa bình lọt thỏm bốn bề dày đặc quân xâm lược.

- Đã vào ngoại ô Sài Gòn rồi ư?

- Không - Anh du kích đáp lại lời tôi - Đến Sài Gòn phải 30 ky lô mét nữa. Đây là xã Tân Thạnh Tây của huyện Nam Chi(1). Bộ đội sư đoàn 9 đóng trong ấp. Em đưa thủ trưởng vào đây em coi như hết nhiệm vụ.

Tôi không tin nổi mắt mình và lời anh du kích. Cách ấp 100 mét về hướng Bình Dương có một bót địch với chiếc lồng cu khá cao để quan sát, nơi đó tên lính canh đang ca vọng cổ. Chỗ tôi đứng vẫn nghe rõ mồn một cái giọng eo éo của hắn ta. Phía sau về bên phải nơi chúng tôi vừa chui lòn trong đồng cỏ lác là chốt dã chiến xe tăng Mỹ cách đây hơn nghìn mét. Phía phải theo hướng tay chỉ của anh du kích chưa đầy 3 nghìn mét là căn cứ Đồng Dù. Ngước nhìn lên bầu trời trước mặt một quầng sáng vắt từ Đông sang Tây, hướng đó là Sài Gòn cách đây không mấy xa. Thế mà bộ đội ta vẫn đóng quân ngay đây một cách công khai lộ liễu thế sao? Sự thật rành rành ra đấy mà tôi cứ ngỡ mình nằm mơ..!

Tôi hỏi anh du kích:

- Ta với Mỹ - ngụy sống chung hòa bình với nhau, không đánh nhau à?

Anh cười giải thích:

- Choảng nhau chí chết ấy chứ. Có điều ta với Mỹ chẳng có “giao ước” chi, mà hễ 6 giờ sáng đánh đến 6 giờ chiều nghỉ. Mỹ rút ra đồng cụm đây. Quân ta vẫn ở trong ấp sinh hoạt với nhân dân bình thường. 6 giờ sáng hôm sau “chơi” tiếp. Bọn ngụy trong bót xin ta đừng đánh chúng. Chúng không gây cản trở gì ta. Thỉnh thoảng nịnh anh em mình xin vài điếu thuốc lá thơm “bọn em hút rồi ca cải lương anh nghe”.

- Còn dân?

- Đồng bào lúc này nhà nào cũng có người về làm gạo chăm sóc trâu bò heo gà. Loại gia cầm gia súc này đều có công sự che chắn. Đặc biệt về đêm nhà nào cũng nấu đủ phần cơm cho bộ đội theo sự phân công của cán bộ địa phương. Cơm đủ ăn cả ngày hôm sau. Bốn giờ sáng họ giao nhà cho bộ đội gồng gánh tản cư ra vùng địch kiểm soát như thị trấn Củ Chi, Hòa Phú, Bình Mỹ... Trời sập tối ai về nhà nấy làm công việc thường ngày. Đồng bào về mang theo đồ ăn thức uống tiếp tế liên hoan với bộ đội. Trẻ con hát hò công khai các bài ca cách mạng được các chú giải phóng dạy cho. Thủ trưởng vào xóm xem, muốn nếm thứ gì cũng có. Nhiều hiệu cà phê, quán giải khát, tiệm phở hủ tiếu, cửa hàng bánh kẹo sữa đường.. Rất đông dân Sài Gòn từ người lao động đến trí thức, người hèn kẻ sang, các cụ già đạo mạo đến bọn thanh niên dáng cao bồi... Đêm nào cũng tấp nập về đây để xem mặt quân giải phóng, lính cụ Hồ. Rất nhiều tiểu thư con cái nhà lành cả các chị em cháu chắt của thần “bạch mi” nữa đây.

Tôi cắt ngang:

- Thế họ có mồi chài anh em mình không?

Anh xua tay:

- Không, không. Họ không dám. Không phải vì sợ mà họ phục, phục lăn anh em mình. Bộ đội mình đứng đắn lễ phép không tơ hào một tí gì của dân, dân cho cũng không dám nhận, tôn kính người lớn, yêu mến trẻ con, đứng đắn với phụ nữ... Anh em đã làm dân mến dân yêu và tin cậy. Em ở đây đưa đón cán bộ, du kích ra vào ăn ở hàng ngày. Nhờ bà con đùm bọc che chở. Chứ dễ gì sát nách bọn Mỹ mà trụ được.

Một lần nữa tôi suy ngẫm càng thấm sâu ý tưởng Bác Hồ: “Cá không nước cá sao sống nổi”.

Tôi làm việc với đồng chí Tạ Quang Tỷ phó Tư lệnh sư đoàn 9 anh hùng lực lượng vũ trang và đồng chí trung đoàn trưởng Trung đoàn 2 không mất nhiều thời gian. Kết thúc vào lúc 11 giờ đêm. Các anh đề nghị tôi nghỉ đêm tại tiểu đoàn đang trụ trong ấp. Anh em thu xếp cho hai chúng tôi chỗ nghỉ dưới hầm trong nhà dân. Nhưng tôi muốn hít thở nhịp sống về đêm ở một vùng có những lạ lùng tôi không hiểu nổi. Đánh nhau cả ngày, trời xẩm tối ngưng chiến không cần “hiệp định” để về đêm mỗi bên thư giãn theo cách riêng của mình.

Tôi gieo mình vào đống rơm to tướng cao quá đầu người trước sân. Đêm nay đúng mùng bảy Tết Mậu Thân. Hương trầm theo gió thoảng từ nhà ai quanh đây tỏa ra thơm dịu làm thư thái tâm hồn. Mùi rạ mới hòa quyện mùi khói bếp ngai ngái nước đái trâu... tạo thứ mùi tổng hợp đặc trưng vùng quê mà tuổi ấu thơ tôi quen thuộc. Tôi đưa 100 đồng tiền Sài Gòn cho cậu liên lạc công vụ ra phố mua cái gì ăn tùy thích. Còn tôi từ đầu hôm đến giờ chưa có miếng chi bỏ bụng nhưng không thấy đói. Sáng nay tôi nhận được 300 đồng, khoản tiền nho nhỏ trong tiêu chuẩn được bồi dưỡng. Tôi rất thèm được nếm lại mùi vị bát phở tái, tô hủ tíu, một tách cà phê Sài Gòn ắt hẳn ngon lắm. Ngoài đường dù đêm đã khuya vẫn còn rộn rịp người qua lại. Anh đèn măng sông đèn khí đá sáng tỏ lối đi. Các cửa hiệu hai bên phố nhỏ nửa thị nửa quê vẫn kẻ ra người vào, vẫn tiếng máy nổ ròn của xe lam, xe máy. Tiếng chày khuya, tiếng nô đùa của trẻ con trong xóm, tiếng nghêu ngao của anh chàng lính ngụy trên tháp canh đang xuống giọng “xề” mở đầu cho bài vọng cổ: “Than ôi! Nước mắm mặn không tiền mua giấm, chứ ái khanh ơi! Có bạc lẻ cho trẫm mượn đỡ hai... ờ đồ... ồng!” lúc này sao tôi muốn nhìn ngắm mọi người. Lâu, lâu lắm trừ phi tiếp xúc với đồng bào Thượng vùng rừng núi Tây Nguyên, một số bà con bám trụ vùng du kích ở Bà Rá (Phước Long) tôi chưa thấy lại bà con người miền xuôi nhất là dân Sài Gòn. Chỉ chuyển dịch không đầy 100 mét là tôi đứng trên con lộ trải nhựa phẳng lì hoặc bước vào một cửa hiệu nào đó. Tôi sẽ thỏa mãn những điều ước muốn của mình. Thế mà tôi vẫn giữ nguyên tư thế nằm bên cạnh đụn rơm không buồn ngồi dậy. Về khuya trời sa sương se se lạnh. Tôi vẫn nằm đó phì phèo mấy hơi thuốc lá Rubi, nhai mấy kẹo dừa do cậu công vụ mua ngoài phố mang về. Tôi ngửa mặt nhìn trời. Màn trời cao, trong, không gợn chút mây. Sao đêm mờ nhạt bởi ánh sáng đèn dù. Tôi tìm trong ấy ngôi sao “chiếu mệnh” của mình không biết ẩn khuất nơi nao.

Tôi đi vào giấc ngủ, một giấc ngủ thoải mái an lành bên trong lò lửa chiến tranh giống như một ốc đảo tí hon nằm lọt thỏm giữa một vùng sa mạc khổng lồ. Trước ngày đánh nhau với bọn sư đoàn 1 “anh cả đỏ ” Mỹ ở nam thị xã Hớn Quản (Bình Long) đến nay, chưa có đêm nào tôi ngủ quá hai giờ.

Có người đánh thức tôi dậy. Lúc này mọi chuyển động cuộc sống trong đêm như đã ngừng quay. Cảnh vật trở lại im ắng. Trời mờ sương đục. Vẫn mùi hương trầm thoang thoảng trong không khí ban mai lành lạnh, thật dễ chịu.

Đồng chí tiểu đoàn trưởng nói với tôi: “chúng mình dùng bữa sáng để còn kịp đón khách đến thăm”. Thoạt nghe tôi chưng hửng nhủ thầm: “Khách nào lại đến chúc xuân nơi này”. Xong lại vỗ trán tự trách: “ ngốc ơi là ngốc”.

Tôi hỏi lại anh:

- Nghe nói thường vào lúc 6 giờ họ mới đến cơ mà.

Anh gật đầu:

- Có thế thật.

- Sao thế nhỉ?

- Tôi tịt như anh. Không rõ trong điều lệnh chiến đấu quân Mỹ có định ra điều này không?

Tôi đáp:

- Chắc không. Có thể do từng tên chỉ huy vận dụng.

Tiểu đoàn trưởng tán đồng ý kiến tôi. Anh nói:

- Hôm đầu chúng ra vẻ hung hăng, tấn công vào đây trên hai hướng chia nhiều mũi. Bị ta nện cho. Mấy chiếc tăng M41, xe bọc thép M113 bị bắn hỏng nằm chình ình ra đó. Thế là cả bọn tháo lui ra xa bắn vãi đạn loạn xạ. Từ bữa đó đến giờ, hễ 6 giờ sáng chúng bày binh bố trận tiến vào nhưng chớm đến tầm B40, B41 của ta chúng nằm lại gọi trực thăng đến quần đảo trợ chiến. Chiều đến khoảng 18 giờ chúng lại lui ra giữa đồng cụm lại như các anh thấy đấy. Hình như chúng không muốn đánh với ta thật sự.

- Cần cảnh giác hiện tượng này. Biết đâu chúng tạo một đường nhăn trong suy nghĩ của ta quen cái nếp này của chúng, rồi bất thần làm một điều gì đó ta không kịp trở tay.

- Hoan hô một ý kiến hay. Chúng tôi đã bàn chuyện này.

- Tôi nêu thắc mắc:

- Tại sao chúng không tập trung oanh kích bằng phi pháo vào ấp khi chúng thừa biết có chủ lực ta tại đây.

- Cũng là dấu hỏi của chúng tôi và cấp trên.

- Câu trả lời?

- Một trong mấy lời giải có thể chấp nhận như sau: chúng biết ta sẽ không trụ lâu, đến lúc nào đó rút ra ngoài các hướng chúng thừa biết. Thôn ấp này vốn thuộc kiểm soát của chúng. Nếu ta không đánh bại chúng ở Sài Gòn, vùng này về lâu về dài không thuộc về ta. Thế thì hủy diệt làm gì. Sẽ đẩy dân chúng càng ngã theo cách mạng, lại oán hận chúng. Nhân dân có cớ kéo đi đấu tranh buộc chúng phải bồi thường. Điều này đối phó không dễ với chúng đâu. Bây giờ tạo thế cầm chân ta rồi tổ chức nút chặn bên ngoài các hướng ta có thể lui. Lúc đó sẽ tập trung sức diệt ta ngoài khu trắng.

- Còn lời giải nào khác?

- Nếu có, trong óc các vị bề trên.

Tôi ngẫm nghĩ vấn đề nêu ra của đồng chí tiểu đoàn trưởng. Nếu thế, đó là điều thử thách không dễ cho trung đoàn 88 chúng tôi. Vài ba hôm nữa chúng tôi sẽ đến đây.

Cầm đĩa cơm gạo trắng trong tay có món thịt gà rim mặn và mấy miếng lạp xưởng láng mỡ, tôi hỏi anh:

- Đều đều thế này ư?

- Từ ngày đứng trụ tại đây mọi cái ăn đều của đồng bào nuôi bộ đội ta cả đấy - Anh hất đầu để tôi chú ý đến cái rá đựng đầy cơm nắm, nắm cơm nào cũng to như trái dừa đã bóc vỏ - Cơm trưa bà con lo sẵn cho chúng mình. Có món này - anh chỉ những miếng thịt gà rim mặn và nhúm muối đậu. Tất cả đều bọc trong những túi ni lông trắng nuốt.

- Lo cho cả sư đoàn sức dân sao chịu nổi?

- Một trung đoàn - Anh đính chính câu nói của tôi và tiếp:

- Chi bộ Đảng và cán bộ địa phương từ huyện đến xã thôn bám dân hết sức nhiệt tình vận động quần chúng dốc tiền, dốc gạo tiếp tế nuôi dưỡng bộ đội ta. Ai có gì góp nấy. Tuy ta có đề nghị chi hoặc thanh toán bằng tiền cho dân cũng không được. Đồng bào nói: “Anh em không tiếc xương tiếc máu chiến đấu chống giặc Mỹ xâm lược huống hồ bà con chỉ tốn ít công ít của có thấm vào đâu”.

Tôi lại hỏi: quán xá cửa hiệu họ để nguyên thế à?

- Gần sáng mọi thứ đều cho xuống hầm. Không nhà nào không hầm. Hầm chia mấy tầng. Tầng trên nghỉ ngơi ngủ. Tầng dưới tránh phi pháo. Bộ đội ta vào đây đỡ tốn công làm hầm. Chỉ dốc sức xây dựng công sự chiến đấu vòng ngoài. Nhiều nhà đào cả hầm trú ẩn cho gia súc, gia cầm. Đây anh xem bây giờ không còn ai trong ấp. Chiều đến, tiếng súng ngừng, họ lại gồng gánh trở về với anh em ta. Cuộc sống về đêm lại nhộn nhịp rôm rả. Mỹ à! Chúng thừa biết thừa thấy ấy chứ. Có tên chỉ vào thúng đựng thực phẩm, nhu yếu phẩm của đồng bào từ vùng địch gánh ra cười hỏi: “tiếp tế Việt cộng hả?” Mấy cô gái ta gan đầy mình “lì lợm dễ. sợ”: “Ừ, tiếp tế để họ đánh chúng mày. Về Mỹ đi. Vợ con bọn mày đang ngóng trông từng ngày đấy. Ở đây chết uổng mạng!” trong số lính Mỹ nhiều thằng bặp bẹ tiếng Việt. Nó nghe nó hiểu gật đầu nhe răng cười phát tay ra hiệu: đi, đi...

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn