Dấu ấn Bộ đội chủ lực Liên khu 5 trong kháng chiến chống Pháp
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1946 – 1954), dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương Đảng mà trực tiếp là Xứ ủy, UBND lâm thời Trung Bộ (sau này là Liên khu ủy 5), trên chiến trường Nam Trung bộ, bộ đội chủ lực của ta nhanh chóng trưởng thành, phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ với bộ đội địa phương, dân quân du kích và lực lượng chính trị quần chúng thực hiện những đòn đánh quyết định trên chiến trường chính, làm chuyển biến cục diện có lợi cho ta. Những chiến thắng vẻ vang trên chiến t
Cuối tháng 9/1945, sau khi quân Pháp gây hấn ở Nam Trung Bộ và đánh vào Nha Trang, để đối phó với âm mưu và hành động mở rộng chiến tranh trên địa bàn Nam Trung Bộ của thực dân Pháp, Xứ ủy và UBND lâm thời Trung Bộ quyết định thành lập Ủy ban Quân chính nam phần Trung bộ và Bộ chỉ huy Mặt trận Nha Trang để chỉ huy chiến đấu trên mặt trận phía nam từ Phú Yên đến Bình Thuận và các tỉnh Đắk Lắk, Lâm Viên (Lâm Đồng ngày nay), Đồng Nai thượng. Điều động 2 chi đội quân giải phóng, nòng cốt là chiến sĩ du kích Ba Tơ vào cực Nam Trung Bộ; đồng thời tiếp nhận 10 chi đội quân Nam Tiến từ Bắc và Trung vào chi viện cho mặt trận phía Nam.

Để tổ chức lại chiến trường phù hợp với tình hình nhiệm vụ mới, ngày 16/10/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký quyết định thành lập Chiến khu 5 (gồm: Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Gia Lai, Kon Tum do đồng chí Cao Văn Khánh làm Khu trưởng và đồng chí Nguyễn Chánh làm Chính ủy) và Chiến khu 6. (gồm: Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đắk Lắk, Lâm Viên và Đồng Nai thượng do đồng chí Trần Công Khanh, sau đó là đồng chí Nguyễn Tế Lâm làm Khu trưởng và đồng chí Trịnh Huy Khang làm Chính ủy). Dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng mà trực tiếp là Xứ ủy và Ủy ban nhân dân lâm thời Trung Bộ, Lực lượng vũ trang của Chiến khu 5 và Chiến khu 6 không ngừng trưởng thành lớn mạnh cả về số lượng và chất lượng, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới.
Chiến trường Nam Trung bộ trong kháng chiến chống Pháp hình thành hai vùng rõ rệt: Vùng tự do (gồm tỉnh Bình Định, Quảng Ngãi và phần lớn 2 tỉnh Quảng Nam, Phú Yên) và vùng địch tạm chiếm (quân Pháp chiếm các tỉnh Tây Nguyên, Đà Nẵng, phía Bắc tỉnh Quảng Nam và từ Đèo Cả trở vào).
Bước vào cuộc chiến, tương quan giữa ta và địch quá chênh lệch. Vũ khí của ta hầu như rất thô sơ, không đáng kể, kho tàn hầu như trống rỗng. Vùng tự do trong thế bị bao vây bốn mặt, xa Trung ương, xa hậu phương chiến lược, sự chi viện gặp nhiều trở ngại, khó khăn. Chiến trường Nam Trung bộ lúc này không chỉ thiếu trang bị vũ khí, mà còn thiếu cả kỹ thuật quân sự. Năm 1946, Trường Lục quân Quảng Ngãi được thành lập. Đồng chí Phan Hàm – nguyên Nhà giáo làm Hiệu trưởng, giáo viên là những sĩ quan hàng binh Nhật được giác ngộ, có trình độ phụ trách huấn luyện quân sự.
Tuy LLVT của ta còn rất non trẻ, chưa được huấn luyện bài bản, trang bị vũ khí hết sức thô sơ, nhưng với lòng yêu nước sâu sắc, tinh thần tinh thần “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” đã đương đầu với đội quân nhà nghề thiện chiến của Pháp, có máy bay, đại bác và các phương tiện chiến tranh hiện đại. Cùng với quân và dân cả nước, quân và dân Nam Trung Bộ đã đứng vững và vượt qua những thử thách gay gắt của thời kỳ đầu chiến tranh, làm thất bại kế hoạch đánh nhanh của thực dân Pháp, bảo toàn và phát triển lực lượng. Nhiều trận đánh vang đội, đi vào lịch sử như: Trung đội Tự vệ Võ Ký đánh địch ở ga Nha Trang (10/1945), trung đội Nguyễn Trung Thành đánh địch ở đèo Phượng Hoàng (1/1946), 64 cảm tử quân đánh đồn Tú Thủy (14/3/1947), tiêu biểu nhất là tiếng bom của quyết tử quân Ngô Mây trận Rộc Dừa (12/1947)…

Thu – Đông năm 1947, sau thất bại trong cuộc tấn công lên Việt Bắc, thực dân Pháp từ mở rộng chuyển sang củng cố và chiếm đóng. Trên chiến trường Nam Trung bộ địch xây dựng một loạt cứ điểm vững chắc. Trước những tình hình diễn biến trên chiến trường, để phù hợp với nhiệm vụ quân sự, tháng 9/1947, Trung ương có quyết định tách các tỉnh Tây Nguyên thành lập Khu 15. Ngày 25/1/1948, Chính phủ có Sắc lệnh 120/SL về việc thành lập các Liên khu trong cả nước. Theo đó, ngày 20/10/1948, các Khu 5, Khu 6, Khu 15 sát nhập thành Liên khu 5. Thực hiện chủ trương trên, phong trào “luyện quân lập công” đã diễn ra rộng khắp. Sau “luyện quân lập công”, trình độ kỹ chiến thuật của bộ đội có sự tiến bộ rõ rệt. Từ phục kích tại chỗ tiến lên phục kích vận động như: Tiểu đoàn 79, Tiểu đoàn 19 đánh trên đèo Hải Vân diệt từng đại đội địch (25/5/1948 và 2/1/1949); Tiểu đoàn 365 bất ngờ thọc sâu xuống Bắc thị trấn Vạn Giã (Khánh Hòa) phục kích khu vực cầu Ninh Mã, diệt đoàn xe địch có 1 đại đội Âu phi hộ tống (7/7/1949). Ở Quảng Nam, Trung đoàn 108 được tăng cường Tiểu đoàn 19 và Tiểu đoàn 79, đã phục kích cả đường ô tô và đường xe lửa, tiêu diệt, làm bị thương trên 300 tên địch trên đèo Hải Vân (24/1/949); sau đó vận động phục kích tiêu diệt hoàn toàn 1 đại đội và 14 xe cơ giới tại Gò Cà (31/3/1949). Ở cực Nam Trung Bộ, Liên Trung đoàn 81, 82 phục kích trên đường 11, đường Suối Kiết, Tánh Linh diệt gần 100 tên địch.
Ngoài ra, ta đã sử dụng các hình thức chiến thuật cường tập, kỳ tập đánh tiêu diệt các cứ điểm, đồn bốt cỡ đại đội, trung đội địch đóng giữ, làm thất bại kế hoạch đóng đồn và tháp canh dày đặc với chiến thuật “cứ điểm nhỏ, ứng chiến nhanh” của địch. Tháng 5/1949, Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu đã ra quyết định thành lập Trung đoàn 210, là trung đoàn chủ lực đầu tiên của Quân khu do đồng chí Đàm Quang Trung làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Đôn làm Chính ủy và đồng chí Phan Hàm làm Trung đoàn phó. Đến tháng 6/1950, Liên khu ủy và Bộ Tư lệnh Liên khu tiếp tục ra quyết định thành lập trung đoàn 803 do đồng chí Lư Giang làm Trung đoàn trưởng, đồng chí Nguyễn Sắc Kim làm Chính ủy và đồng chí Võ Quang Hồ làm Trung đoàn phó.
Năm 1950, sau Chiến thắng Biên giới, theo Chỉ thị của Bộ tổng Tư lệnh, Liên khu 5 cử đoàn cán bộ, chiến sĩ ra Bắc để học tập kỹ, chiến thuật mới, cũng như về chính trị, nâng cao tư tưởng, giải quyết được cách đánh. Đây được xem là cuộc chỉnh quân, một chuyển biến lớn của Bộ đội chủ lực Liên khu 5.
Nhưng thời điểm lúc bấy giờ, đời sống của nhân dân ta vô cùng khó khăn. Tuy vậy, Liên khu ủy và Ủy ban kháng chiến luôn quan tâm đời sống, vật chất cho cán bộ, chiến sĩ. Nâng cấp sinh hoạt phí hằng tháng, mỗi ngày mỗi người được hưởng 1,2 cân gạo (8 lạng nấu cơm, 4 lạng tiền chợ); phụ cấp hàng tháng cho cán bộ tiểu đội và chiến sĩ 3 cân gạo, trung đội và đại đội 5 cân gạo, tiểu đoàn và trung đoàn 7 cân gạo; quần áo mỗi năm 2 bộ vải xita…
Được tiếp thu kỹ, chiến thuật mới, ngày 6/8/1951, Bộ đội chủ lực Liên khu 5 mở đầu bằng trận Kon-plong. Đây là phân chi khu kiên cố của địch ở Kon Tum, có gần 300 quân đóng giữ. Trận đánh diễn ra suốt 14 tiếng đồng hồ, cứ điểm kiên cố của địch bị ta tiêu diệt, thu 200 súng các loại và 29 tấn đạn dược. Sau đó, chiến dịch Bắc Tây Nguyên (đầu năm 1952) bằng trận đánh Ai Nu, chưa đầy 30 phút, Trung đoàn 803 đã diệt gọn cứ điểm địch. Tiếp đến, Trung đoàn 803 mở chiến dịch Hè – Thu Bắc Quảng Nam – Đà Nẵng. Đây là những trận công đồn bằng sức mạnh. Đêm 21/7, ta diệt cứ điểm Xuân Đài. Tiếp đó, đêm 23/7, ta diệt cứ điểm Vân Ly sau đó là cứ điểm Thượng Phước. Bị mất 3 cứ điểm trong 3 đêm, địch điên cuồng điều gần 3.000 quân, có không quân, pháo binh, xe lội nước yểm trợ, vượt sông Thu Bồn tiến công ta. Bộ đội ta đã chặn đánh quyết liệt, tiêu diệt 200 tên, bắn cháy 5 xe lội nước.

Thừa thắng, Bộ chỉ huy chiến dịch lệnh cho Trung đoàn 803 diệt tiếp cứ điểm Túy Loan án ngữ Tây Bắc Đà Nẵng. Sau một giờ quyết chiến quân ta đã diệt gọn cứ diểm, tiêu diệt 200 tên địch, bắt sống quan hai Pháp, thu đại bác 94mm. Sau Túy Loan là cứ điểm Đồn Nhứt (Đồn Nhất) trên đỉnh đèo Hải Vân. Trước một địa hình hết sức hiểm trở, bằng sự mưu trí, gan dạ, dũng cảm, không quản ngại hy sinh gian khổ, ta đã tiêu diệt Đồn Nhứt, bắt sống chỉ huy Pháp, làm chủ chiến trường, thu 3 trọng liên 20 ly, 11 trung liên và nhiều quân trang quân dụng. Chiến dịch Hè Thu Quảng Nam – Đà Nẵng năm 1952 là Chiến thắng toàn diện. 7 cứ điểm, 5 tháp canh địch bị diệt, giết chết gần 2.000 tên địch, thu nhiều vũ khí.
Bước vào năm 1953, trọng điểm tác chiến của chủ lực là chiến trường An – Khê. Chỉ sau 9 ngày (bắt đầu từ đêm 19/1), hàng loạt cứ điểm địch như: Cửu An, Tú Thủy, Eo Gió, Thượng An, Đầu Đèo bị diệt, tuyến phòng thủ đèo Mang Giang (Gia Lai) bị uy hiếp. Ta diệt trên ngàn tên địch, thu nhiều vũ khí, trong đó có 3 khẩu đại bác và 1 khẩu 155mm.
Mùa Xuân 1954, hòng giành lại thế chủ động, thực dân Pháp mở cuộc hành quân Át-lăng, mưu đồ chiếm vùng tự do Liên khu 5. Bộ Tư lệnh Liên khu nhận định: Tây Nguyên là địa bàn chiến lược hết sức quan trọng, tiến lên đánh địch ở Tây Nguyên là bảo vệ được vùng tự do ta. Địch vừa tiến công ra Phú Yên, thì ngay trong đêm 11/1, tại Chiến trường Bắc Tây nguyên các Trung đoàn chủ lực 803, 108 của ta diệt 3 cứ điểm mạnh của địch là Măng Đen, Mang Bút, Kom Rẫy (Kon Tum). Hốt hoảng trước sức tiến công quá mạnh của ta, địch rút bỏ Kon Tum, điều ngay 3 binh đoàn từ Phú Yên lên bảo vệ Tây Nguyên – trong đó có Binh đoàn 100.
Rằm tháng giêng (tức đêm 17/1/1954), ta tiến công tiêu diệt cứ điểm Đắc Đoa, diệt 117 tên lính Âu Phi. Thắng trận này, Bộ Tổng Tư lệnh lệnh cho Trung đoàn 803 nhanh chóng vượt đường 19 nổ súng ngay để kiềm chế địch. Chấp hành mệnh lệnh, Trung đoàn 803 vượt đường 19 để tiêu diệt Pleiring – một cứ điểm nhỏ. Đơn vị vừa tiếp cận, lại nhận được điện trên cho biết: “Binh đoàn 100 vừa đến Pleiring, ngày mai 21 tháng 3 năm 1954 chúng sẽ mở cuộc càn lớn”. Vậy Pleiring không còn là cứ điểm nhỏ mà là một binh đoàn lớn. Ta, bây giờ là 5 đại đội, địch gấp ta 10 lần, trang bị nhiều binh khí kỹ thuật hiện đại, tương quan lực lượng quá chênh lệch. Đánh hay dừng? Bây giờ là 1 giờ sáng ngày 21/3, Trung đoàn trưởng 803 quyết đánh. Điện báo về trên, Tư lệnh Chiến dịch Nguyễn Chánh chấp nhận. Ta nổ súng, bị đánh bất ngờ, quân địch chết như ngã rạ, lớp chết, lớp đầu hàng. Sau 2 giờ quyết chiến, trời sắp sáng ta lệnh thu quân.
Đơn vị vừa về đến vị trí thì được điện của Bộ tổng Tư lệnh thông báo: “Mấy giờ vừa rồi ở Bắc Tây Nguyên có trận đánh lớn. Binh đoàn 100 đã bị thệt hại rất nặng, chết 936 tên, 20 xe bị phá hủy, 200 xe cơ giới và pháo bị hư hỏng nặng…”
Sau Pleiring, theo dõi tình hình địch, Bộ Tư lệnh chiến dịch phán đoán, địch sẽ rút bỏ An Khê và lệnh cho Trung đoàn 96 (vừa thành lập) chốt chặt đường 19. Đơn vị vừa chiếm lĩnh trận địa thì đúng lúc đơn vị vị đi đầu của địch cũng vừa chuẩn bị vượt cầu Đắc Pơ. Trung đoàn lệnh nổ súng, bộ phận chặn đầu đã chặn đứng quân địch. Ở hướng chủ yếu, cậy thế có xe tăng, xe bọc thép, địch chống cự quyết liệt. Tuy nhiên, tên đại tá Barroux cùng bọn tùy tùng bị bắt sống. Kết quả trận Đắc Pơ, trên 700 lính Âu Phi và ngụy bị ta tiêu diệt và làm bị thương, gần 1.200 tên bị bắt, ta thu 229 chiếc xe còn nguyên vẹn, có 1 xe tăng và 20 đại bác 105mm, trên 1.000 súng các loại…
Nhận định, địch rút bỏ Pleiku, Bộ Tư lệnh chiến dịch điều 2 Tiểu đoàn của Trung đoàn 108 và 1 Tiểu đoàn của Trung đoàn 803 cấp tốc chờ chặn đánh địch ở đường 14. Sau 5 ngày ém quân, ngày 17/7/1954, một đoàn xe địch vượt đèo Chư-đờ-rê (phía Bắc Buôn Mê Thuộc – Đắk Lắk) ta nổ súng chặn đánh. Kết quả, sau 2 giờ quyết chiến, 62 xe cơ giới bị ta bắn hỏng, 300 tên bị giết. Đặc biệt, có 179 tên lính Âu Phi của Binh đoàn 100, sau các trận đánh còn sống sót được bố trí đi sau cùng cũng đã bị Tiểu đoàn 39 bắt gọn. Trận Chư-đơ-rê là trận đánh cuối cùng, diễn ra chỉ 3 ngày, trước khi có Hiệp Định Giơ-ne-vơ.
9 năm kháng chiến chống Pháp, Bộ đội chủ lực Liên khu 5 đã trưởng thành vượt bật. Kể từ ngày bộ đội ta nổ súng đánh trả quân Pháp ở Nha Trang (ngày 22/10/1945) đến ngày 22/7/1954, bộ đội chủ lực Liên khu 5 đã thu hơn 13.164 súng các loại (trong đó có 42 khẩu pháo, đại bác từ 37 ly đến 155 ly, 182 trọng liên, hơn 2.970 trung liên). Ta, từ một đội quân “đầu trần chân đất” trở thành một đội quân tinh nhuệ, “Thiện chiến”, “Nghĩa hiệp”, “Thần thoại” mà kẻ thù cũng phải thốt lên những lời thán phục. Dấu ấn bằng những trận đánh khẳng định sự trưởng thành của Bộ đội chủ lực Liên khu 5 và góp phần vào sự lớn mạnh, “kẻ thù nào cũng chiến thắng” của Quân đội nhân dân Việt Nam Anh hùng.
Đại tá VÕ VĂN MINH
CCB Trung đoàn 803, nguyên Trưởng phòng Lịch sử Quân khu 4
http://baoquankhu5.vn/dau-an-bo-doi-chu-luc-lien-khu-5-trong-khang-chien-chong-phap/



