Bài viết

Dấu ấn Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng mối quan hệ hòa bình, hữu nghị Việt Nam – Liên bang Nga

Dấu ấn Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xây dựng mối quan hệ hòa bình, hữu nghị Việt Nam – Liên bang Nga

18/08/2026Xã Hàm Yên (Đoàn xã Hàm Yên)3 lượt xem0 lượt chia sẻ

Năm 1911, người thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành lên con tàu Amiral Latouche-Tréville sang phương Tây với quyết tâm tìm lại độc lập, tự do cho dân tộc. Trên cuộc hành trình tìm đường cứu nước, Nguyễn Tất Thành đến Pháp, Mỹ, Anh và nhiều nước khác. Năm 1917, Cách mạng Tháng Mười Nga bùng nổ và giành thắng lợi, mở ra thời kỳ mới cho lịch sử nhân loại: lần đầu tiên trong lịch sử thế giới, ở nước Nga, những người lao động đã nắm được chính quyền. Vì thế, khi đọc được “Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa” của Lênin, Người đã khẳng định: “Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta”(1). Từ đó, Người đã lựa chọn đi theo Cách mạng Tháng Mười Nga, tin theo Lênin để tìm ra con đường giải phóng cho dân tộc.

Năm 1923, Nguyễn Ái Quốc lần đầu tiên được sang nước Nga Xô viết tham dự Đại hội lần thứ V của Quốc tế Cộng sản. Kể từ đó, Người hoạt động ngay tại trung tâm cách mạng thế giới, trực tiếp nghiên cứu lý luận cách mạng chủ nghĩa Mác – Lênin, xác định cách mạng Việt Nam theo con đường cách mạng xã hội chủ nghĩa và tạo dựng nền móng đầu tiên cho mối quan hệ ngoại giao hữu nghị giữa dân tộc Việt Nam với nước Nga Xô viết. Việt Nam giành được độc lập chưa được bao lâu đã phải tiến hành cuộc kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp trong tình hình bất lợi nhất về quan hệ đối ngoại. Đất nước hoàn toàn bị bao vây, thông tin tuyên truyền, quan hệ quốc tế, viện trợ hầu như không có.

Nhận thức sâu sắc rằng, đối với cách mạng Việt Nam lúc này, nhiệm vụ cấp bách là phải chọc thủng vòng vây, đưa Việt Nam đến với thế giới, Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Hồ Chí Minh đã nghĩ ngay đến nước Nga Xô viết –  “thành trì của nhân loại mới và tiến bộ”, “thành trì cách mạng, thành trì dân chủ và hòa bình thế giới”(2). Vì vậy, từ chiến khu Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ba lần bí mật đến nước Nga: tháng 2 – 1950, tháng 10 – 1952 và tháng 4 – 1954, nhằm tìm cách phá vỡ vòng vây của kẻ thù, tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của bạn bè quốc tế.

Ngày 30-01-1950, Liên Xô là một trong những nước đầu tiên trên thế giới công nhận và chính thức thiết lập quan hệ ngoại giao với nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, mở ra một thời kỳ mới trong quan hệ giữa hai nước. Ngay sau đó, Hồ Chí Minh, với tư cách là Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã bí mật thăm Liên Xô từ khoảng ngày 10 đến 16-02-1950 nhằm thúc đẩy sự hình thành và phát triển mối quan hệ hợp tác, hữu nghị song phương trong hoàn cảnh mới.

Ngày 16-02-1950, tại Moscow, đã diễn ra cuộc gặp giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với Joseph Stalin và các nhà lãnh đạo Liên Xô như Georgy Malenkov, Vyacheslav Molotov, Nikita Khrushchev… Cuộc gặp gỡ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, tạo điều kiện để Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp trình bày với lãnh đạo Liên Xô về tình hình cách mạng Việt Nam, về chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Đông Dương và Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Trong sự kiện này, có một câu chuyện thể hiện sự gần gũi, ý nhị nhưng cũng là tài ngoại giao tinh tế của Chủ tịch Hồ Chí Minh với Stalin được kể lại như sau: ngày 14-02-1950, Liên Xô và Trung Quốc chuẩn bị ký Hiệp ước Hữu nghị và Hợp tác, và khi ký có mời Hồ Chí Minh tới dự. Khi lãnh tụ Việt Nam Hồ Chí Minh hỏi Stalin xem ông có chỉ thị gì cho mình, Stalin nói đùa: “Làm sao tôi có thể chỉ thị Ngài. Ngài là Chủ tịch, theo vị thế còn cao hơn tôi”. Hồ Chí Minh tiếp tục đùa: “Ngài đã ký thỏa thuận với các đồng chí Trung Quốc, vậy sao không ký thỏa thuận như vậy với chúng tôi khi tôi đang ở đây”.

Biết được Chủ tịch Hồ Chí Minh thăm Liên Xô một cách bí mật, Stalin nói: “Nhưng khi đó người ta có thể hỏi Ngài đến đây như thế nào?”. Người dí dỏm đáp lại: “Ngài có thể đưa tôi lên máy bay, bay một vòng trên trời, sau đó đưa mọi người tới gặp tôi ở sân bay và thông tin cho báo chí. Mọi thứ sẽ ổn”. Stalin cười và nói: “Bạn là những người phương Đông, có trí tưởng tượng thật đặc biệt”(3).

Trong suốt thời kỳ kháng chiến lâu dài và gian khổ, nhân dân ta nhận được sự đồng tình sâu sắc cùng sự giúp đỡ to lớn cả về vật chất và tinh thần từ Liên Xô. Ngày 10-3-1952, Hồ Chí Minh đã viết quốc thư, cử Nguyễn Lương Bằng làm Đại sứ Việt Nam tại Liên Xô. Đại sứ đầu tiên của Liên Xô tại Việt Nam, A. Lavrishchev, cũng đã trình quốc thư lên Chủ tịch Hồ Chí Minh vào tháng 11 – 1954. Sau khi hai nước có quan hệ ngoại giao chính thức, các cuộc thăm viếng của các đoàn đại biểu Đảng và Nhà nước cùng những cuộc tiếp xúc thường xuyên giữa các nhà lãnh đạo hai nước, đã đóng vai trò đặc biệt quan trọng trong việc không ngừng củng cố tình đoàn kết và mở rộng hợp tác song phương.

Năm 1954, cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp giành thắng lợi, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Thủ đô Hà Nội. Trong Khu Phủ Chủ tịch, Hà Nội, với cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tiếp nhiều đoàn khách quốc tế, những người bạn trên thế giới, đặc biệt trong đó có các nhà lãnh đạo Liên Xô. Mối quan hệ giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh với các nhà lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô ngày càng gắn bó mật thiết, không chỉ là quan hệ bang giao giữa hai quốc gia, mà còn là tình bằng hữu, tình đồng chí thắm thiết lâu năm của những người cộng sản quốc tế.

Tháng 7 – 1955, Hồ Chí Minh chính thức sang thăm Liên Xô trên cương vị Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa nhằm củng cố tình đoàn kết hữu nghị, tăng cường mối quan hệ kinh tế và văn hóa giữa hai nước. Chuyến thăm của Người đã đạt được những kết quả to lớn trên nhiều phương diện. Đây cũng là một cuộc tái ngộ lịch sử, đáp ứng ước nguyện của những người chiến sĩ vẻ vang của Cách mạng Tháng Mười Nga với người lãnh tụ tối cao của Cách mạng Tháng Tám ở Việt Nam, đồng thời cũng là ước nguyện của đồng chí Manuinxki, người đỡ đầu của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong những năm tháng Người từ Pháp sang Liên Xô công tác tại Quốc tế Cộng sản.

Tại Điện Kremlin, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã có các buổi hội đàm và ký kết những hiệp định đầu tiên với các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô, trong đó có K.E.Voroshilov, về việc Liên Xô giúp đỡ kinh tế và kỹ thuật cho Việt Nam, mở ra mối quan hệ hợp tác giữa hai nước trong các lĩnh vực kinh tế, khoa học và văn hóa, từ đó không ngừng phát triển và củng cố. Nhiều hiệp ước, hiệp định và văn kiện thỏa thuận, cùng các tuyên bố và thông cáo chung Việt Nam – Liên Xô, đã làm sinh động thêm tình hữu nghị và hợp tác hiệu quả giữa hai Đảng, Chính phủ và nhân dân hai nước.

Quan hệ hợp tác song phương cũng sớm được thúc đẩy, khởi đầu bằng việc ký Hiệp định Hợp tác Kinh tế -Thương mại Việt Nam – Liên Xô ngày 18-6-1955. Ngày 18-7-1955, phát biểu tại sân bay trước khi rời Moscow, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói với các đồng chí Liên Xô bằng tiếng Nga những lời hàm súc như một ước nguyện thủy chung: “Chúng tôi trở về Tổ quốc đem theo tình thân yêu và tình hữu nghị anh em của nhân dân Liên Xô. Tuy Việt Nam và Liên Xô cách xa nhau hàng nghìn dặm, nhưng trái tim chúng ta luôn luôn ở bên nhau và đập chung một nhịp”(4).

Đến ngày 13-7-1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng và Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa sang thăm Liên Xô. Đón tiếp Người, Chủ tịch Kliment Yefremovich Voroshilov rất ân cần và thân mật, thể hiện tình cảm đặc biệt giữa những người bạn cộng sản, giữa những người đứng đầu hai Đảng anh em. Cũng trong năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh sang Liên Xô dự lễ kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Mười Nga và tham dự phiên họp đặc biệt của Xô viết tối cao Liên Xô.

Chủ tịch Hồ Chí Minh trao Huân chương Anh hùng Lao động Việt Nam tặng nhà du hành vũ trụ Liên Xô German Titov tại Hà Nội, ngày 21-1-1962. Sang năm 1959, Chủ tịch Hồ Chí Minh có đi nghỉ hè tại Liên Xô. Là một vị lãnh tụ, nhưng Người luôn sống giản dị, không câu nệ các lễ tiết khi không phải là những hoạt động ngoại giao chính thức. Vì thế, trước khi sang, Người đã gửi điện yêu cầu các đồng chí Liên Xô để mình “đi như một người du lịch thường đi, một cách giản dị, xin miễn tất cả các hình thức đón tiếp, yến tiệc, đăng báo, v.v…”(5). Cũng nhân dịp này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thăm 9 nước Cộng hòa trong Liên bang Xô viết. Để thuận tiện cho mỗi lần di chuyển, Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô đã bố trí một chiếc máy bay riêng cho Người, cử theo các đồng chí bảo vệ, chăm sóc sức khỏe, ăn uống cho Người.

Cùng với những chuyến thăm, tiếp xúc ngoại giao, trong những năm tháng trên cương vị Chủ tịch nước, Chủ tịch Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết 52 bức điện và thư chúc mừng các nhà lãnh đạo Liên Xô nhân dịp kỷ niệm những ngày lễ lớn như Cách mạng Tháng Mười, Ngày thành lập Hồng quân Liên Xô, hay ngày sinh nhật các nhà lãnh đạo Liên Xô; ký 75 sắc lệnh tặng thưởng huân chương, huy chương và gửi hàng trăm huy hiệu tới các chuyên gia đã tham gia, giúp đỡ, ủng hộ Việt Nam trong công cuộc bảo vệ, xây dựng và phát triển đất nước; đồng thời viết 32 bài nói về Cách mạng Tháng Mười, về V. I. Lênin, về con đường cách mạng vô sản… Với thiện chí và nỗ lực không biết mệt mỏi của người chiến sĩ cộng sản quốc tế Hồ Chí Minh trong quan hệ giữa hai nước, Liên Xô đã tuyên bố: “…Liên Xô hoàn toàn ủng hộ cuộc đấu tranh chống Mỹ, cứu nước của Việt Nam”(6).

Suốt những năm tháng gắn bó với nước Nga Xô viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trực tiếp trải nghiệm và cảm nhận được những tình cảm chân thành cùng sự giúp đỡ vô tư của Liên Xô đối với cách mạng Việt Nam. Người viết: “Càng nhớ lại những ngày tủi nhục mất nước, nhớ lại mỗi bước đường đấu tranh cách mạng đầy hy sinh, gian khổ mà cũng đầy thắng lợi vẻ vang, thì giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam càng thấm thía công ơn to lớn của Lênin và Cách mạng Tháng Mười”(7). Cho đến những ngày tháng cuối cùng của cuộc đời, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn dành trọn tấm lòng thủy chung son sắt và lòng biết ơn vô hạn đối với Lênin, Cách mạng Tháng Mười Nga và nhân dân Liên Xô.

Với những đóng góp to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc củng cố và tăng cường tình đoàn kết, hữu nghị với Liên Xô và nhân dịp kỷ niệm 50 năm Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười, Đoàn Chủ tịch Xô viết Tối cao Liên Xô đã quyết định tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh huân chương cao quý nhất của Liên Xô – Huân chương Lênin. Đáp lại niềm vinh dự và tình cảm cao đẹp đó, ngày 06-11-1967, Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi điện cảm ơn tới Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Liên Xô và Đoàn Chủ tịch Xô viết Tối cao Liên Xô. Trong bức điện, Người nêu lên niềm vinh dự, tự hào khi được Nhà nước Liên Xô tặng Huân chương Lênin, nhưng đồng thời bày tỏ ý nguyện của mình: “… Tôi vô cùng cảm ơn các đồng chí, nhưng xin các đồng chí tạm hoãn việc trao tặng phần thưởng cực kỳ cao quý ấy. Đến ngày nhân dân chúng tôi đánh đuổi được bọn đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng hoàn toàn đất nước, tôi sẽ đại diện cho toàn thể đồng bào tôi, trân trọng và vui mừng lãnh lấy Huân chương mang tên Lênin vĩ đại”(8).

Không chỉ về đối ngoại Đảng, ngoại giao Nhà nước, đối với bạn bè, đồng chí và nhân dân Xô viết, Chủ tịch Hồ Chí Minh là hiện thân của tình cảm quốc tế cao đẹp trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình nhân loại và tiến bộ xã hội. Từ những người bạn cộng sản trong thời kỳ Người còn hoạt động cách mạng cho đến các chính khách Nga và đông đảo quần chúng nhân dân Liên Xô, tất cả đều dành cho Người một tình cảm đặc biệt. Hiện nay, Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh – nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh sống và làm việc trong suốt 14 năm 1954 – 1969, còn lưu giữ nhiều hiện vật là những kỷ vật do bạn bè Liên Xô tặng như: phù điêu búa -liềm, viên đá chặn giấy, mô hình tháp Kremlin, bức tượng bán thân của Lênin, đặc biệt là bức ảnh của Lênin được Người treo trang trọng phía trên bàn làm việc tại Nhà 54, … Những kỷ vật này không chỉ chứa đựng tình cảm quý báu của Đảng, Chính phủ và nhân dân Liên Xô dành cho vị lãnh tụ vĩ đại của nhân dân Việt Nam, mà còn là minh chứng sinh động cho tình đoàn kết, hữu nghị bền vững giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Liên Xô do Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng và vun đắp.

Cùng với các kỷ vật quà tặng, trên bàn làm việc tại Nhà sàn hiện nay vẫn còn những cuốn sách tiếng Nga Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc trong những ngày cuối đời, như: “Hãy sờ tay vào bom” của nhà văn Irina Lepchenko; cuốn “Bàn về cuộc Cách mạng xã hội chủ nghĩa Tháng Mười vĩ đại”; cuốn “700.000 km trong vũ trụ” của nhà du hành vũ trụ, Anh hùng Liên Xô Gherman Titov tặng Chủ tịch Hồ Chí Minh… Ngoài ra, để bảo đảm an toàn, thuận tiện cho Chủ tịch Hồ Chí Minh trong các chuyến công tác, Đảng Cộng sản Liên Xô đã gửi tặng Người chiếc xe Pobeda và xe ZIS.

Trong những tuần cuối cùng khi sức khỏe của Người diễn biến ngày càng xấu và phức tạp, bên cạnh các bác sĩ sang chữa bệnh, Chính phủ Liên Xô còn cử thêm 5 chuyên gia y tế sang Việt Nam để chuẩn bị giữ gìn thi hài khi Người qua đời… Ngay khi nhận được tin Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần, các đồng chí lãnh đạo Đảng và Nhà nước Liên Xô đã lập tức gửi điện chia buồn tới Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam, khẳng định: “… Những người cộng sản Liên Xô và toàn thể nhân dân Liên Xô đánh giá cao sự cống hiến không biết mệt mỏi của đồng chí Hồ Chí Minh cho sự phát triển tình hữu nghị anh em giữa Đảng Lao động Việt Nam và Đảng Cộng sản Liên Xô, giữa nhân dân Liên Xô và nhân dân Việt Nam. Nhân dân Liên Xô sẽ đời đời giữ gìn kỷ niệm trong sáng về Người, như một nhà Mácxít – Lêninnít kiên định, một người bạn thủy chung của Đảng và đất nước Liên Xô”(9).

Sau khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời, mối quan hệ giữa hai nước Việt Nam – Liên Xô vẫn tiếp tục được duy trì tốt đẹp, mặc dù có những thời điểm lịch sử diễn ra nhiều biến động to lớn. Cuối năm 1991, Liên Xô tan rã; Nhà nước Liên bang Nga, với tư cách là “quốc gia kế tục”, đã kế thừa Liên Xô trong các mối quan hệ quốc tế, trong đó có quan hệ với Việt Nam.

Nhờ những nỗ lực ngoại giao của hai nước, từ đó đến nay, quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga ngày càng đạt được nhiều kết quả thiết thực. Trên lĩnh vực kinh tế – thương mại, với lực đẩy từ hợp tác chính trị – ngoại giao, quan hệ kinh tế Việt – Nga không ngừng có những bước tiến tích cực, đặc biệt trong những năm gần đây. Lĩnh vực an ninh – quốc phòng là một trong những trụ cột hợp tác có bề dày truyền thống giữa hai nước và đã có những bước phát triển rõ rệt về chất. Bên cạnh đó, quan hệ Việt – Nga trên các lĩnh vực khác như khoa học – kỹ thuật, văn hóa – giáo dục cũng ngày càng sôi động, hiệu quả và đi vào chiều sâu.

Nhìn lại hơn 76 năm quan hệ Việt Nam – Liên bang Nga, có thể khẳng định rằng, dù trải qua nhiều thăng trầm và biến động của lịch sử, mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa hai nước vẫn luôn được gìn giữ, củng cố và không ngừng nâng lên tầm cao mới, đáp ứng lợi ích của cả hai bên, phù hợp với xu thế hòa bình, ổn định và hợp tác phát triển của thời đại ngày nay.

Dưới sự dẫn dắt và tư tưởng đối ngoại nhất quán của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mối quan hệ hữu nghị Việt Nam – Liên Xô trước đây và Việt Nam – Liên bang Nga ngày nay đã được xây dựng, vun đắp và phát triển bền vững. Trải qua 76 năm với nhiều biến động của lịch sử, quan hệ giữa hai nước vẫn luôn nồng ấm, tin cậy, trở thành đối tác chiến lược toàn diện. Sự trân trọng đó được thể hiện rõ qua lời nhận xét của Tổng thống Liên bang Nga Vladimir Putin trong chuyến thăm Việt Nam năm 2001: “Tôi chân thành quan tâm tới cuộc đời của người thầy vĩ đại của nhân dân Việt Nam, một con người mà tên tuổi đã ghi vào lịch sử toàn thế giới”(14). Đây chính là sự khẳng định sâu sắc đối với di sản tư tưởng, nhân cách và vai trò lịch sử to lớn của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong việc xây dựng và gìn giữ tình hữu nghị Việt – Nga.

Bạn cũng đang lưu giữ
một câu chuyện lịch sử?

Hãy chia sẻ để ký ức không bao giờ bị lãng quên

Gửi câu chuyện của bạn