Giữa lúc tình hình thế giới có nhiều biến chuyển mau lẹ, đặc biệt là sự ác liệt và quy mô rộng lớn của cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai (1939-1945) đang mở ra nhiều cơ hội cho phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, trong đó có cách mạng Việt Nam. Ngay khi được tin phát xít Đức tấn công Pháp (tháng 6/1940), Chính phủ Pháp chấp nhận đầu hàng vô điều kiện. Nhận thấy cơ hội giải phóng cho dân tộc đang đến gần, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã triệu tập ngay cuộc họp với các đồng chí trong Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương, phân tích và nhận định tình hình: “Đây là thời cơ thuận lợi cho cách mạng Việt Nam. Ta phải tìm mọi cách về nước để tranh thủ nắm thời cơ. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng” [8, tr.14-15]. Tháng 9/1940, Nhật nhảy vào Đông Dương, nhân dân ta phải chịu cảnh áp bức “một cổ hai tròng” nô lệ, các cuộc khởi nghĩa bị đàn áp dã man. Yêu cầu khách quan cần kíp phải nhanh chóng củng cố lại hệ thống tổ chức đảng từ trung ương đến cơ sở, kịp thời lãnh đạo phong trào cách mạng tiến lên. Để về nước hoạt động, Người nhận thấy cần phải xây dựng căn cứ địa cách mạng vững chắc - nơi đó phải hội tụ đầy đủ các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hoà”; phải là một sự tính toán khoa học, kỹ lưỡng, đảm bảo các yêu cầu của một địa bàn có ý nghĩa chiến lược cho cách mạng cả nước.
Cao Bằng là nơi hội tụ nhiều yếu tố thuận lợi để xây dựng căn cứ địa cách mạng, đủ điều kiện trở thành một trong những bàn đạp chiến lược đầu tiên của thời kỳ khởi nghĩa vũ trang giải phóng dân tộc. “Căn cứ địa Cao Bằng sẽ mở ra triển vọng lớn cho cách mạng nước ta. Cao Bằng có phong trào tốt từ trước, lại kề sát biên giới, lấy đó làm cơ sở liên lạc quốc tế rất thuận lợi. Nhưng từ Cao Bằng còn phải phát triển về Thái Nguyên và thông xuống nữa mới có thể tiếp xúc với toàn quốc được. Có nối phong trào được với Thái Nguyên và toàn quốc thì khi phát động đấu tranh vũ trang, lúc thuận lợi có thể tiến công, lúc khó khăn có thể giữ” [7, tr.37].Với nhận định đúng đắn đó, ngày 28/01/1941, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc vượt qua cột mốc 108 (nay là cột mốc 675) trên biên giới Việt Nam - Trung Quốc (thuộc xã Trường Hà, Hà Quảng, Cao Bằng) trở về Tổ quốc sau 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước. Ngay sau khi về nước, Người cùng Trung ương Đảng lãnh đạo nhân dân cả nước chuẩn bị mọi điều kiện tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền. Trước sự chuyển biến nhanh chóng của cách mạng thế giới, nhất là phong trào “đánh Pháp, đuổi Nhật” của nhân dân đang trên đà phát triển mạnh mẽ, đòi hỏi Đảng Cộng sản Đông Dương phải có những quyết sách kịp thời thúc đẩy phong trào cách mạng, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, thực hiện thắng lợi mục tiêu giải phóng dân tộc khi thời cơ đến. Với danh nghĩa đại diện Quốc tế Cộng sản, từ ngày 10/05 đến ngày 19/05/1941, Nguyễn Ái Quốc trực tiếp triệu tập, chủ trì Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Pác Bó (Cao Bằng). Hội nghị khẳng định: “Trong lúc này quyền lợi của bộ phận, của giai cấp phải đặt dưới sự sinh tử, tồn vong của quốc gia, của dân tộc. Trong lúc này, nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được” [1, tr.113]. Hội nghị quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh, đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, đặc biệt chú trọng công tác xây dựng Đảng, coi công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm của toàn Đảng, toàn quân ta. Hội nghị Trung ương lần thứ tám với sự chuyển hướng chiến lược, sách lược cách mạng, giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa nhiệm vụ dân tộc và giai cấp, dân tộc và dân chủ trong điều kiện cụ thể của Việt Nam chính là sự hoàn chỉnh nội dung các nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ sáu (tháng 11/1939) và Hội nghị Trung ương lần thứ bảy (tháng 11/1940). Ngày 06/06/1941, Nguyễn Ái Quốc viết thư “Kính cáo đồng bào”, kêu gọi toàn dân đoàn kết: “Việc cứu quốc là việc chung. Ai là người Việt Nam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm: người có tiền góp tiền, người có của góp của, người có sức góp sức, người có tài năng góp tài năng... Chúng ta hãy tiến lên! Toàn thể đồng bào tiến lên. Đoàn kết thống nhất đánh đuổi Pháp, Nhật” [4, tr.198]. Sự chuyển hướng chiến lược một cách kịp thời, đầy sáng tạo đã đáp ứng được khát vọng độc lập, tự do của toàn dân tộc! Chỉ trong thời gian ngắn, hầu như các tổng, xã thuộc 3 châu (Hà Quảng, Hòa An, Nguyên Bình) đã có cơ sở Việt Minh và tổ chức được đội tự vệ. Tháng 10/1941, Người chỉ thị cho Đảng bộ Cao Bằng thành lập đội vũ trang tập trung (Đội du kích) đầu tiên của tỉnh, tiến tới thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân (ngày 22/12/1944). Cao Bằng trở thành một trong những vùng quan trọng của khu giải phóng Việt Bắc, là chiếc nôi của cách mạng Việt Nam. Sau khi ra đời, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tích cực khẩn trương chuẩn bị mọi mặt cho trận đánh đầu tiên. Với sự dũng cảm, mưu trí, táo bạo, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đã dành chiến thắng vang dội ở Phay Khắt (thuộc xã Tam Lộng, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, ngày 25/12/1944) và Nà Ngần (thuộc xã Cẩm Lý, châu Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng, ngày 26/12/1944), mở ra một thời kỳ phát triển mới của cuộc đấu tranh vũ trang. Đồng thời, cổ vũ mạnh mẽ tinh thần cách mạng của quân dân ta, gấp rút chuẩn bị mọi lực lượng chớp thời cơ, tiến hành tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công “đập tan ách thống trị của thực dân, phong kiến, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa dân tộc ta tiến vào kỷ nguyên độc lập, tự do” [2, tr.63], tiếp tục mở đường đi tới những thắng lợi huy hoàng. Chiến thắng Điện Biên Phủ (năm 1954) “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, “lần đầu tiên trong lịch sử, một nước thuộc địa nhỏ yếu đã đánh thắng một nước thực dân hùng mạnh. Đó là một thắng lợi vẻ vang của nhân dân Việt Nam, đồng thời cũng là một thắng lợi của các lực lượng hòa bình, dân chủ và xã hội chủ nghĩa trên thế giới” [5, tr.410]. Đại thắng mùa Xuân năm 1975 hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và đi lên xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước, “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX” [6, tr.694]. Thành tựu của 40 năm đổi mới toàn diện đất nước (1986-2026), chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng hoàn thiện và từng bước được hiện thực hóa. Những thắng lợi vĩ đại của cách mạng Việt Nam sẽ tiếp tục được nối dài và phát huy cao độ trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc! 85 năm đã trôi qua, ngày Bác trở về nước mang theo “con đường giải phóng” đã tạo nên sự thay đổi của tương lai, vận mệnh của cả dân tộc.Mỗi người dân Việt Nam càng mãi thêm tự hào, tin tưởng hơn về con đường mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn. Đúng như Gớt Hôn - Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Mỹ, đã từng nhận xét: “Đồng chí Hồ Chí Minh là con người cần thiết xuất hiện đúng lúc, đúng yêu cầu của lịch sử, với những tư tưởng và ý kiến đúng. Chính vì vậy mà đồng chí làm ra lịch sử… Đồng chí Hồ Chí Minh là một lãnh tụ thế giới vào lúc lịch sử loài người đang ở bước ngoặt có tính chất cách mạng nhất” [9, tr.78].Trong không khí hào hùng, phấn khởi cả nước đang tưng bừng chuẩn bị tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng là dịp để toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta tiếp tục tôn vinh cuộc đời, sự nghiệp cách mạng và những cống hiến vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Các cấp uỷ đảng, chính quyền và toàn thể nhân dân tiếp tục phát huy hơn nữa tinh thần yêu nước, chủ nghĩa anh hùng cách mạng, ý chí tự lực, tự cường, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong thời đại mới. TÀI LIỆU THAM KHẢO [1]Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000,tập 7, tr.113 [2]Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2011, tr. 63. [3] Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2000,tập 7, tr.113 [4]Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.1995, tập 3, tr.198 [5] Hồ Chí Minh, Toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia Sự thật, H.2021, t. 12, tr. 410. [6] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Đảng toàn tập, Nxb Chính trị quốc gia, H.2002, Tập 47, tr. 694 [7] Võ Nguyên Giáp, Những chặng đường lịch sử, Nxb Chính trị quốc gia, H.2010, tr.37 [8]Vũ Anh, Bác Hồ về nước, Hội Văn học nghệ thuật Cao Bằng, năm 1986, tr.14-15. [9] Thế giới ca ngợi và thương tiếc Hồ Chủ tịch, Nxb Sự thật, H.1970, tập1, tr.78