DẤU ẤN ĐẠI TƯỚNG LÊ TRỌNG TẤN TRONG NHỮNG NĂM THÁNG HÀO HÙNG CỦA DÂN TỘC
Đại tướng Lê Trọng Tấn sinh ngày 1 tháng 10 năm 1914 tại làng Yên Nghĩa, huyện Hoài Đức, nay thuộc thủ đô Hà Nội. Lớn lên trong cảnh nước mất nhà tan dưới ách đô hộ của thực dân phong kiến, ông sớm nuôi dưỡng lòng yêu nước nồng nàn và tinh thần tự cường dân tộc. Nhận thức rõ con đường duy nhất để giải phóng dân tộc là đi theo con đường cách mạng, ông tham gia phong trào Việt Minh từ năm 1944. Tháng 8 năm 1945, khi thời cơ lịch sử xuất hiện, ông trực tiếp lãnh đạo quần chúng nhân dân nổi dậy giành chính quyền tại địa phương. Ngay sau khi nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời, ông chính thức gia nhập quân đội, bắt đầu một cuộc đời gắn liền với binh nghiệp và những năm tháng xông pha trận mạc đầy gian khổ nhưng vô cùng vẻ vang.
Sự nghiệp quân sự của ông bắt đầu thăng hoa và ghi dấu ấn sâu đậm trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp trường kỳ. Vào cuối năm 1950, khi Sư đoàn 312 - một trong những đại đoàn chủ lực đầu tiên của quân đội ta - được thành lập, ông được tin tưởng giao trọng trách Đại đoàn trưởng kiêm Bí thư Đảng ủy. Dưới sự chỉ huy trực tiếp của ông, đơn vị này đã trưởng thành vượt bậc, lập nên nhiều chiến công vang dội qua các chiến dịch lớn. Đỉnh cao của giai đoạn này là chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử năm 1954, nơi Sư đoàn 312 chịu trách nhiệm đánh chiếm những mục tiêu then chốt. Chính đại đoàn do ông chỉ huy đã đột phá thành công phân khu trung tâm, đánh thẳng vào sở chỉ huy tập đoàn cứ điểm và bắt sống tướng De Castries cùng toàn bộ Bộ tham mưu địch, góp phần quyết định đập tan tập đoàn cứ điểm bất khả chiến bại của thực dân Pháp, khép lại 9 năm kháng chiến chống Pháp oanh liệt.
Bước sang giai đoạn kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tài năng thao lược và tầm nhìn chiến lược của ông tiếp tục được khẳng định qua hàng loạt chiến dịch quy mô lớn ở những chiến trường ác liệt nhất. Ông luôn thể hiện tư duy quân sự sắc bén, khả năng phân tích tình hình chiến trường cực kỳ chính xác và phong cách chỉ huy táo bạo, quyết đoán. Từ chiến dịch Đường 9 Nam Lào cho đến chiến dịch Trị Thiên năm 1972, dấu ấn chiến thuật của ông đều góp phần làm thay đổi cục diện chiến trường, khiến đối phương phải nể sợ. Các đồng nghiệp và cả các tướng lĩnh đối phương từng đánh giá cao ông không chỉ ở khả năng tổ chức lực lượng mà còn ở sự nhạy bén trong việc nắm bắt thời cơ, luôn đi trước một bước để giành thế chủ động trên chiến trường.
Đỉnh cao trong sự nghiệp cầm quân của ông là vai trò chỉ đạo và trực tiếp điều hành trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Sau khi tham gia chỉ đạo chiến dịch giải phóng Huế và Đà Nẵng với tốc độ thần tốc, táo bạo, khiến đối phương không kịp trở tay, ông tiếp tục được giao trọng trách Tư lệnh Cánh quân hướng Đông trong Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Dưới sự điều phối chặt chẽ và quyết tâm cao độ của ông, cánh quân này đã vượt qua nhiều tuyến phòng thủ kiên cố của đối phương ở cửa ngõ phía Đông, tiến thẳng vào trung tâm Sài Gòn, phối hợp nhịp nhàng với các hướng tiến công khác để đưa chiến dịch đến thắng lợi hoàn toàn vào trưa ngày 30 tháng 4 năm 1975, hoàn thành sứ mệnh lịch sử thống nhất đất nước.
Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, trên cương vị Thứ trưởng Bộ Quốc phòng kiêm Tổng Tham mưu trưởng Quân đội Nhân dân Việt Nam, ông tiếp tục cống hiến trọn đời cho sự nghiệp củng cố nền quốc phòng toàn dân, xây dựng quân đội chính quy, tinh nhuệ và hiện đại. Ông trực tiếp tham gia chỉ đạo các chiến dịch bảo vệ biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc và làm nghĩa vụ quốc tế cao cả, luôn giữ vững thế chủ động và bảo vệ toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ của Tổ quốc.
Cuộc đời hoạt động cách mạng của Đại tướng Lê Trọng Tấn là biểu tượng sáng ngời về lòng trung thành tuyệt đối với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, về tinh thần kỷ luật nghiêm minh và phong cách làm việc khoa học, bám sát thực tiễn. Dù ở bất kỳ cương vị nào, ông cũng luôn thể hiện phẩm chất của một người chỉ huy mẫu mực, hết lòng thương yêu cán bộ, chiến sĩ và luôn đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc lên trên hết. Những di sản quân sự, tư duy chiến lược và phẩm chất đạo đức cách mạng của ông vẫn giữ nguyên giá trị, trở thành niềm tự hào lớn lao của các thế hệ cán bộ, chiến sĩ quân đội cũng như nhân dân cả nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay.



